KÝ ỨC BỘ ĐỘI : 100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN

 

    100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN

      Hồi ức của Ngô Minh

 
                 
Tieu doi cua Ngô Minh  truóc khi vựot Truong Son

Trong  đời tôi có những năm tháng khắc tạc vào trí nhớ không thể quên. Một trong những ký ức mãi tươi ròng không thành sẹo đó là 100 ngày vượt Trường Sơn đánh giặc. Hàng triệu người lính đã vượt Trường Sơn. Hàng vạn người  lính đã nằm lại giữa lòng Trường Sơn. Trường Sơn là nơi thử thách ý chí và lòng người :Trường Sơn đông nắng tây mưa/Ai chưa đến đó như chưa rõ mình ( Tố Hữu). Đường Trường Sơn luôn luôn là một bí ẩn không chỉ đối với kẻ thù mà cả đối với những người đã từng 100 ngày leo đèo vượt suối như tôi. Đi một chặng là hiểu thêm bao điều bi tráng lớn lao của cuộc kháng chiến. Đã 36 năm rồi cuốn "Nhật ký Trường Sơn" mỏng của tôi dẫu nhòe bụi thời gian vẫn nóng hổi từng con chữ. Xin gửi đến bạn đọc trẻ hôm nay những hồi ức chân thực rút từ cuốn nhật ký ghi vội giữa chiến trường năm ấy để biết cha anh mình đã vượt Trường Sơn như thế nào...

               1.    LÊN TRƯỜNG SƠN

Tiểu đội chúng tôi trong đội hình Sư đoàn 325 khung vượt Trường Sơn năm ấy toàn sinh viên Đại học Thương nghiệp Hà Nội. Đứa đang ôn thi tốt nghiệp như tôi được công nhận tốt nghiệp đặc cách đứa học năm thứ hai ba. Tôi có mấy anh em thân thiết như ruột thịt  là Võ Văn Đảm Lê Văn Trung ở Vĩnh Linh Nguyễn Văn Dũng-Ý Yên ( Hà Nam) Nguyễn Hữu Thước Nam Đàn (Nghệ An) rồi Hồng Phan Văn Các Cao Xuân Hậu.v.v.. Đóng quân ở Phổ Yên sau  3 tháng đeo gạch đá tập leo đèo vượt dốc mướt mồ hôi ở Tuyên Quang Bắc Cạn đi qua mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào chúng tôi sắp hành quân vào B2 . Đầu tháng 1-1973 việc cấp bách    trước khi lên đường là chúng tôi phải tổ chức đám cưới của cho đôi uyên ương Đảm - Quỳnh. Hai người yêu nhau thắm thiết ba bốn năm rồi. Đám cưới  được tổ chức tại  ngôi trường tiểu học của xã vào ngày chủ nhật. Hơn hai chục  anh em dân Đại học Thương nghiệp đóng vai nhà trai mặc toàn đồ bộ đội. Để có phòng tân hôn chúng tôi lấy tấm bảng lớp học kê lên bàn học trò trải chiếu chăn bộ đội tăng võng mới phát đi B quây xung quanh rồi đẩy hai người vào. Sáng ra lại kê trả lại bàn ghế cho học sinh đến lớp. Phòng tân hôn "dã chiến" ấy hoạt động được hai đêm thì có lệnh hành quân. Thế mà Đảm đã để lại đứa con Võ Thị Hồng Giang ( Vĩnh Giang là tên xã của Đảm) nay đã thành một người mẹ trẻ hai con ở thành phối Thái Nguyên. 

Từ Phổ Yên đầu tháng 1-1973 chúng tôi hành quân bằng xe tải bịt bùng chạy mấy ngày  thì đến thị xã Đồng Hới giữa khuya. Phố xá Thị xã Hoa Hồng của tôi bị bom đạn san bằng. Sáng sớm lại đi ca-nô lên Xuân Thủy. Có hai chục cây số đường sông mà cả sư đoàn phải di chuyển  một ngày trời . Từ đây về nhà tôi 20 cây số chạy bộ chỉ hơn 3 tiếng đồng hồ nên tôi ghé tai nói thầm với Đảm :" Khôi vù về thăm mạ chút. Về đây mà không  gặp mạ sau này có chuyện gì ân hận lắm! Sáng mai lên sớm.". Thế rồi tôi bỏ ăn tối không xin phép Trung đội sang đò cắm cổ chạy . Đây là đường tôi đi học mấy năm cấp 3 nên rất thạo. Mười giờ đêm tôi về đến làng biển Thượng Luật. Thấy tôi xuất hiện đột ngột mạ ôm lấy tôi sờ nắn chân tay rồi khóc nức nở:" Ôi con ơi gửi  cái thư về thôi sao lại trốn !". Mạ giục các anh  đi bắt gà  làm thịt nấu cháo liên hoan. Đến 4 giờ sáng mạ bắt thằng Quang lớn tuổi hơn nhưng gọi tôi bằng chú lấy xe đạp xe đạp chở tôi lên đơn vị...

Từ sáng đó chúng tôi bắt đầu đi bộ leo đèo vượt dốc 100 ngày ròng rã . Ngày đầu chúng tôi đi theo đường 14 từ lúc trời chưa sáng rõ. Mới đi bộ vài tiếng mà đứa nào mồ hôi cũng vả ra như tắm. Hai vai tê dại. Chiếc ba lô căng phồng với trăm thứ đủ cho một người lính ra trận như quần áo dài quần áo cộc võng bạt tăng màn chăn lương khô 4 gói muối bột ruốc bông thịt hộp hộp thuốc bệnh bao tượng hơn 5 cân gạo vắt vai. Số gạo ấy đủ ăn trong một tuần. Rồi còn  xẻng cuốc xè beng thìa để đào hầm cài xung quanh. Ngoài ra mỗi người lính còn phải mang súng AK đạn bốn quả lựu đạn dao găm bình tong nước bát đũa đèn pin.v.v... Tính ra mỗi người phải mang tới gần 40 kí lô trên vai. Ai đến phiên "trực nấu cơm" của tiểu đội còn phải mang thêm chảo soong môi thìa.v.v.. rất kềnh càng nhem nhuốc...

Cả tuần hành quân bằng ô tô không biết  nặng. Bây giờ chiếc ba lô như một hòn núi trên vai. Mấy tiếng đầu thì còn đi đứng "oai hùng" lắm. Vài tiếng sau là lết từng bước. Thằng Dũng sợ nặng đêm qua nó đã lén vứt bớt đi nào xè beng cuốc. Hắn gọi là "làm một cuộc thanh trừng". Còn tôi gầy gò nhỏ bé chỉ nặng 40 ký Đảm thấy thương nên ngày nào cũng mang hộ súng gạo. Vậy mà tôi cứ đi sau cùng tiểu đội.  Chúng tôi đi tới 8 tiếng đồng hồ mới tới trạm T6 Trạm đầu tiên trên đất Hướng Hóa Quảng Trị. Tới nơi đứa nào chân cũng nặng như đổ chì. Có đứa chỉ cần ngả  lưng bên đường lưng tựa vào ba lô là ngáy. Giao liên phổ biến đã có rất nhiều người ngủ quên đơn vị đi mất thành lính "thu dung" lạc đơn vị. Có đứa vì lạc đơn vị bơ vơ rồi  nhập vào đoàn thương binh ra lại miền Bắc như là một kiểu "đào ngũ thầm lặng". Mệt thế mà đến đoạn rừng rẽ vào T6 thằng Dũng còn kéo Đảm tôi Thước chỉ vào hai anh chị thanh niên xung phong và bộ đội đang cởi trần  "quần" nhau dưới gốc cây quên cả trời đất. Dũng bảo :" Đấy sống gấp đấy ! Hấp dẫn không !".


Mấy hôm nay Hiệp định Raris về Việt Nam được ký kết nên đường Trường Sơn đông như hội. Xe tải chở hàng đi từng đoàn nối nhau. Chiếc nào cũng gắn khẩu hiệu :" Một ngày bằng hai mươi năm". Đến T6 bảng thông tin của Trạm  có dán bài thơ mới Việt Nam Máu và hoa của Tố Hữu: Ao ước trăm năm mãi đợi chờ / Hôm nay vui đến ngỡ trong mơ...Tôi thấy mấy anh lính mở sổ tay chép. Tôi cũng chép thật  nhanh để còn đi nấu cơm. Mệt. Nhưng tôi và Dũng đến phiên trực thổi cơm. Thổi cơm dọc đường hành quân là một nghệ thuật siêu hạng ai không qua không thể hình dung nổi. Hai đứa chặt cây làm đòn khiêng buộc tăng vào xuống suối lấy nước. Nước cáng về đổ vào một cái hố đào vội lót tăng để dự trữ. Cáng đủ nước lên dốc đến chỗ trú quân bở hơi tai.  Lại phải đào bếp Hoàng Cầm để "nấu không khói". Bếp Hoàng Cầm là loại bếp đào xuống đất có chỗ  cho củi vào bắc nồi lên là ánh lửa không  lọt ra ngoài khói được dẫn bằng một đường ngầm phủ lá rừng dài để khói lan trên mặt đất chứ không lên cao. Phải nấu hai chảo cơm . Một chảo để ăn ngay một chảo để làm cơm nắm mai  mang đi ăn buổi trưa. Rồi phải nấu canh nấu nước cho anh em đổ đầy bình tông. Tất cả những việc ấy chỉ được làm trong thời gian ngắn theo lệnh Tiểu đoàn . Khi một tiếng có khi chỉ 40 phút vì sợ máy bay do thám OV10 phát hiện ra. Có bữa cơm vừa chín là phải hành quân phải  khiêng chảo cơm vừa đi vừa ăn...Loại máy bay OV10 này chỉ có cái buồng lái ở phía đầu còn toàn thân rỗng đạn khó bắn trúng . Nó cứ vè vè suốt ngày trên đầu mình. Phát hiện ra  dấu hiệu khả nghi là nó gọi máy bay đến ném bom ngay nguy hiểm lắm. Dọc đường hành quân thỉnh thoảng tôi thấy những mộ nấm mộ bên đường. Có nấm mộ như mới  chôn hôm qua có mảnh nilon ghi tên tuổi một cô gái quê quán...Quảng Bình quê tôi ! Giao liên bảo đó là mộ cô thanh niên xung phong hy sinh tuần trước. Ôi em nằm đây bao giờ mới về quê mạ ?...

        Mười ngày ròng rã chúng tôi hành quân ở Hướng Hóa miền Tây Quảng Trị. Núi cao hiểm trở. Khổ nhất là vượt dốc 1001 trên đường 14. Từ sáng sớm leo lên đến tối mịt mới sang bên kia chân dốc. Có khi phải bấm ngón chân leo qua các triền núi đá.  Chúng tôi ngày nào cũng phải vượt dốc có ngày phải vượt tới 10 cái dốc đầu gối đau ê ẩm. Cũng có ngày được đi chung đường với ô tô vận tải gặp chị em thanh niên xung phong đang lấp  hố bom mùi bom còn khét lẹt. Họ làm việc vất vả nguy hiểm thế nhưng  thấy đoàn lính trẻ mới từ Bắc vào các cô lại cất tiếng hò Sông Mã :" Miễn là anh có lòng thương. Giữa đất cũng đặng chiếu giường mà chi" rồi đấm vai nhau cười vang rừng. Giao liên giục đi nhanh sợ máy bay địch quay lại nhưng anh em thì mang nặng nên tốc độ rất chậm. Có khi một ngày chỉ đi được vài chục cây số. Mấy ngày này mưa liên miên.   Mưa Trường Sơn thật kinh khủng. Trời cứ như nghiêng thùng nước đổ vào đầu người vậy. Mùa mưa chỉ có người đi bộ  có thể đi được còn vận tải ô tô hoặc xe thồ gặp rất khó khăn vì sông suối đều dâng ngập đường lầy lội. Chúng tôi nghe anh em ở Binh trạm kể rằng từ năm 1968 các nhà khoa học Mỹ đã làm mưa nhân tạo để kéo dài vô hạn mùa mưa trên đường Trường Sơn bằng cách tạo mây để hạn chế vận chuyển của quân ta từ Bắc vô Nam.  Mây được tạo trong không trung bằng các đám khói bạc iodide và sau đó được kích hoạt bằng một mồi nổ bắn ra từ súng bắn pháo sáng. Việc làm mưa nhân tạo được thực hiện cho đến giữa năm 1972 nhưng cũng không ngăn được  người và xe từ miền Bắc vẫn tấp nập lên Trường Sơn ...

Chiều đơn vị chúng tôi dừng chân bên một con sông dâng đầy nước. Ở đây có dấu vết của những ngôi nhà đổ nát và những vạt rau khoai lang chứng tỏ một bản dân tộc đã dời đi. Mấy đứa thấy rau lang thì mắt sáng lên không kịp cởi ba lô tranh nhau hái. Khi nghe giao liên cho biết đây là sông Sê Băng Hiêng Võ Văn Đảm nước mắt dàn giụa rồi khóc hu hu như trẻ con. Đảm bảo sông Sê Băng Hiêng là đầu nguồn sông Hiền Lương con sông giới tuyến. Nhà Đảm ở  xã Vĩnh Giang ngay sát bờ bắc sông. Thế mà Đảm chưa một lần qua cầu Hiền Lương . Đến tuổi bộ đội phải vượt sông bằng đường Trường Sơn ! Đảm xúc động cởi quần áo nhảy ùm xuống sông rồi ngẫng lên hướng về phía Đông gọi to :"Mạ ơi con vô đến sông Hiền Lương đây rồi ! Đánh xong giặc con về với mạ !". Mấy đứa chúng tôi cũng không cầm được  nước mắt. Chao ôi Đảm phải vào tận miền Đông Nam Bộ đánh giặc xong rồi nếu còn sống lại đi ra cả ngàn cây số nữa để qua cầu Hiền Lương về với mạ ! Giờ đây chỉ  vài chục cây số thôi mà không sao về thăm nhà...

Bữa cơm tối nay có rau lang luộc chấm với nước muối mà ngon miệng như ăn cao lương mỹ vị. Cấp dưỡng nấu một đứa hơn nửa ký gạo mà cơm hết vèo từ khi nồi hãy còn bốc khói. Vì đã  nửa tháng rồi không rau tươi thèm lắm...

                 2. TRƯỜNG SƠN ĐÔNG -TRƯỜNG SƠN TÂY

               Lên Trường Sơn tôi mới biết đường Trường Sơn không phải là một con đường mà có hai tuyến lớn là đường Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn. Mỗi tuyến đều có hàng chục con đường  ngang dọc chằng chịt bí ẩn. Có giao liên dẫn mới đi đúng đường không  dẫn là sẽ lạc. Hệ thống đường Trường Sơn phát triển thành một mạng lưới phức tạp của các con đường đất đá rộng cho ô tô cho người đi bộ và xe đạp thồ bãi đỗ xe tải. Cạnh đường còn có kho bãi chứa hàng doanh trại bệnh viện đơn vị phòng không bảo vệ.... Tất cả được nằm dưới rừng già máy bay địch khó phát hiện được . Sau này tôi đọc được trong một tài liệu viết rằng các lực lượng phục vụ trên Trường Sơn gồm khoảng 120.000 người đã làm nên mạng đường liên hoàn vững chắc với 5 hệ thống đường trục dọc 21 đường trục ngang nối Đông với Tây Trường Sơn vươn tới các chiến trường với tổng chiều dài gần 2 vạn km đường ô tô 1.400 km đường ống dẫn xǎng dầu 3.140 km "đường kín" (đường K) trong rừng rậm cho xe chạy ban ngày và hàng ngàn cầu cống ngầm...Trong 16 năm tồn tại đường Trường Sơn đã chuyển được hơn một triệu tấn hàng vũ khí vào chiến trường chỉ huy hành quân cho hơn hai triệu lượt bộ đội vào chiến trường hoặc từ chiến trường ra Bắc; vận chuyển 10 lượt sư đoàn 3 quân đoàn hộ tống 90 đơn vị binh chủng kỹ thuật vào chiến trường...

      Đó là tài liệu tổng kết sau này. Còn khi vượt Trường Sơn năm ấy vào ngày nghỉ rỗi rải tò mò quan sát tôi thấy có những con đường đã mở rộng xe ô tô chạy được nấp kín dưới lòng rừng lá phủ dày chưa hề có dấu xe người. Chứng tỏ nó đã được chuẩn bị từ lâu lắm. Có ngày nghỉ Trạm giao liên dẫn chúng tôi đi hàng năm ba cây số vào rừng sâu lấy gạo. Tôi thấy có những kho gạo lớn giấu trong rừng  đã từ lâu mái kho lớp lá cọ rừng hay tăng bạt đã mục nát. Khi giao liên cào lớp lá mục gỡ tấm bạt phủ bên trên ra phải dùng xà beng cạy phần  mốc meo bên ngoài dày tới cả gang tay mới tới phần gạo ẩm bên dưới.  Người vượt Trường Sơn ai cũng  phải ăn thứ gạo ấy. Ăn cơm nấu từ gạo ấy chua mốc nhưng ai cũng hiểu rằng tiềm lực dự trữ lương thực đạn dược cho cuộc kháng chiến ở Trường Sơn rất lớn. Từ đó    càng tin vào thắng lợi ở phía trước. Nghe nói 559 có 6 tiểu đoàn vận tải bằng xe tải 2 tiểu đoàn vận tải xe đạp thồ một tiểu đoàn vận tải đường thủy 8 tiểu đoàn công binh và rất nhiều trạm giao liên. Có ngày chúng tôi đi qua  một hẻm núi vừa bị máy bay địch ném bom. Đất đỏ nhoe nhoét. Tôi thấy một kho đạn pháo lớn bị đánh trúng rìa những hòm đạn vỡ văng ra đường những viên đạn pháo vàng chói nằm bên đường. Có lẽ dây cũng là một kho đạn đã được cất giấu cho một chiến dịch trong tương lai. Lại có ngày nghỉ mấy anh em chúng tôi đi hái rau rừng cải thiện phát hiện ra một  hang đá chứa đầy xe đạp Phượng Hoàng Trung Quốc. Có đến cả ngàn chiếc bỗi mỡ sáng bóng. Đó là xe để cho các tiểu đoàn xe thồ vận chuyển lương thực đan dược dọc Trường Sơn. Nghe nói có người thồ đường núi tới 250 kí. Khiếp thật. Tôi nghĩ nếu Bộ Quốc phòng và Binh đoàn 559 không có tầm nhìn xa như thế thì con đường Trường Sơn không thể trở thành hậu cứ lớn trực tiếp cho cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi suốt 16 năm ròng được.

Chúng tôi hành quân mười ngày trên đất Quảng Trị mà không đi qua thôn bản nào. Bộ đội đi  5 ngày được nghỉ một ngày đó là ngày "chủ nhật" của lính. Ngày nghỉ nhưng nhiều việc lắm. Tắm rửa giặt quần áo cắt tóc cho nhau viết thư sẵn để gặp thương binh ra Bắc thì gửi   rồi rủ nhau xuống suối mò cua bắt cá cải thiện...Ngày 3-2-1973 chúng tôi được nghỉ đúng vào ngày 30 Tết Nguyên Đán Quý Sửu. Cả tiểu đội háo hức chuẩn bị Tết quên cả mệt. Chúng tôi sửa sang lại chỗ ăn cơm cho sạch sẽ. Thằng em út Lê Văn Trung đi hái đâu được mấy bông hoa rừng về cắm vào cái bình tong trên "bàn ăn" làm bằng lồ ô buộc mây mà "anh cả"  Võ Văn Đảm hì hục cả buổi sáng mới xong. Có hoa  là không khí tự nhiên "sang trọng" hẳn lên. Trung là đứa em  mới học năm thứ hai khoa kinh tế kế hoạch. Nó thông minh lém lĩnh có tài kể chuyển Tây Du Ký Tam Quốc. Mỗi đêm nó đi kể chuyện Tam Quốc cho các trung đội khác rồi "xin" mọi người trả thù lao bằng  thuốc lào thuốc lá mang về chia cho những anh nghiện của trung đội. Về thực phẩm tiểu đội tôi còn  bốn hộp thịt kho thì A8 (tiểu đội 8) vay mất một hộp còn 3 . Tiểu đội biểu quyết chiều nay khuy ăn bữa cơm tất niên 30 Tết bằng hết. Trạm giao liên "phân phối" tiêu chuẩn Tết một người 2 cái kẹo mềm Hải Hà hai điếu thuốc Điện Biên bao bạc đã chớm mốc. Tôi nghĩ lính tráng vào Nam đợt này  cả mấy sư đoàn lo được thế là nhất rồi. Ăn xong cả tiểu dội ngồi  quay bên bếp lửa giữa đại ngàn Trường Sơn đưa hát đứa tranh nhau kể chuyện phong tục Tết quê mình...

Tôi ngồi trầm ngâm nghĩ ý thơ vừa tới rồi xin Dũng cái vỏ bao thuốc lá chép vội để mai ghi vào nhật ký : Xuân rừng gợi nhớ xuân quê / Anh đón Tết bằng xôn xao kỷ niệm / Bằng nỗi nhớ em trĩu đường ra trận / Bóng hình em ấm áp Giao Thừa...Khuya rồi Giao thừa Quý Sửu qua từ lâu rồi mà tôi không sao ngủ được. Tôi không ngờ đời mình lại đón Tết ở Trường Sơn nơi đèo cao rừng rậm như thế này. Những ký ức tuổi thơ bên mạ   rồi bạn bè trường lớp cứ dồn dập kéo về. Bỗng nhiên nước mắt cứ trào ra. Tôi thấy võng bên cạnh Dũng Thước hình như cũng không ngủ . Thế là cả ba anh em thức nói chuyện rầm rì cho tới sáng.

            Hôm sau đơn vị chúng tôi chuyển hướng sang Tây Trường Sơn. Cấp trên phổ biến đi vào B2 phải  đi trên đất Lào mới nhanh và an toàn còn đường Trường Sơn Đông thì vào A Lưới Thừa Thiên   Hiên Giằng Quảng Nam...địch bắn phá ác liệt lắm chỉ dành cho các đơn vị đi B1 B3. Thằng Chiến Trung đội 3 người Huế bố tập kết đẻ hắn ở Hà Nội bảo rằng từ Sông Hiền Lương vào Huế chỉ 100 cây số thôi. Từ A Lưới mà về Huế cũng gần trăm cây...Nó tiếc không đi đường ấy để nhìn bầu trời quê  hương.... Ngày hành quân đầu tiên sang đất Lào tôi có một  kỷ niệm nhớ đời : Hôm ấy đến phiên tôi "trực nhật" làm cấp dưỡng phải mang song chảo của đơn vị. Thằng Dũng đã giành mang cái  chảo to để  hai cái song nhôm cho tôi. Tính tôi hay đãng trí. Bất cứ lúc nào trong đầu cũng nghĩ một ý tưởng gì đó khi thì một tứ thơ khi thì một hình ảnh  hoa rừng  vừa bắt gặp hành quân lại  vội vàng nên lần ấy tôi đã quên mang theo  hai cái song nấu  bếp của tiểu đội . Đi được hai cây số mới nhớ ra. Thế là Đảm phải đôn đáo chạy trở lại để tìm. May mà  bãi khách chưa có  đơn khị khác ở. Từ đó Võ Văn Đảm và Lê Văn Trung  thay nhau mang  hộ song chảo  mỗi khi tôi trực nhật vì sợ làm mất cái để nấu ăn hàng ngày !

             Qua đất Lào mới thấm câu hát " Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây/ Bên nắng rát bên mưa quay". Bên Việt hôm qua mưa như trút thì hôm nay bên Lào thì nắng hầm hập như đổ lửa. Rừng Lào lại thưa toàn cây lá gai trông nhức mắt. Bi đông thằng nào cũng cạn nước lâu rồi mà nóng khát vẫn đày đọa con người. Suốt chặng  hành quân gần hai tháng trời mùa khô trên đất Lào chúng tôi đều "khát" nước như thế. Có ngày  được nghỉ tôi đi theo mấy đứa cấp dưỡng ra chỗ lấy nước để rửa ráy cho thoải mái. Nhưng tới nơi tôi phải đứng nhìn vì không có nước để rửa. Ở Trạm này hôm nay có 8 tiểu đoàn bộ đội dừng nghỉ mà chỉ có một vũng nước ở giữa lòng con suối nhỏ rộng chừng năm sáu mét vuông sâu đến đầu gối . Cấp trên cấm không ai được lấy nước để rửa ngoài việc nấu ăn. Thế mà lính phải vét từng "B52"( tên gọi loại bát sắt ăn cơm bộ đội do Trung Quốc sản xuất thời đó)  nhỏ nước bùn rồi đợi cho  lắng bùn lắng mới dùng được. Nước  ngấy mùi lá  mục mùi bùn đến cơm cũng vàng khè bốc mùi mốc. Lính ta hành quân mồ hôi mồ kê lấm láp bụi đường không có nước rửa cứ  đeo tất vào mà ngủ...Thế mà thằng Trung thằng Thước vẫn lầm rầm song ca  ...từ nơi em đưa sang bên nơi anh những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến như tình yêu nối lời vô tận. Đông Trường Sơn nối Tây Trường Sơn...

          Đi trên đất Lào khô nóng nên mỗi lần dừng nghỉ  bên một con sông là niềm hạnh phúc cho lính. Tôi nhớ lần đầu tiên  nghỉ lại bên sông Sêpon con sông chảy giữa biên giới Việt Lào tất cả chúng tôi đều ào xuống sông tắm.  Tắm sông Sê pôn mát lắm. Tắm xong lính rủ nhau vào bản Lào đổi hàng thì gặp một đoàn thương binh B2 ra Bắc. Họ cũng nghỉ ở một  bãi khách  gần chúng tôi. Thấy tân binh mới vô các anh ý ới gọi chúng tôi ghé chơi yêu cầu "kể chuyện miền Bắc" cho các anh nghe... Đoàn thương bệnh binh hôm ấy ra Bắc đông lắm có tới trăm người.  Họ ăn mặc áo quần xanh đỏ tím vàng ai cũng đeo đồng hồ orient lazo chói sáng đài sonny mở phát thanh Hà Nội oang oang rồi cười nói hát hò rôm rả. Nhưng khi đến gần tôi mới hay tất cả họ đều tàn phế. Người thì cụt một chân người thì cụt hai tay người chống nạng người mù mắt người thì đầu  đang quấn  băng trắng toát... Tội nhất là anh Tiến quê Thanh Hóa thương binh cụt cả hai tay hai chân . Anh nằm ngửa trên cáng như một khúc thịt cười hồn nhiên :"Các em phải vui lên ăn cho khỏe vào đường còn xa lắm". Hàng ngày anh được  người của Trạm giao liên cáng từ trạm này giao sang trạm khác. Các anh cho biết đoàn đi từ B2 ra đến đây đã bốn tháng rồi. Ngày chỉ đi được mươi cây số. Ngẫm ra các Trạm giao liên phục vụ các đoàn thương binh ra Bắc còn vất vả khổ nhọc  gấp chục lần phục vụ  các sư đoàn bộ đội vào Nam. Vì họ thương tật nhiều người không tự lo được các việc riêng cá nhân như tắm rửa vệ sinh tất cả  đều phải dựa vào các Trạm giao liên. Mà Trạm thì nhiều con gái thương binh thì toàn đàn ông...Cuộc gặp gỡ những thương binh hạng nặng từ mặt trận trở về làm tôi ám ảnh suốt chặng hành quân sau đó. Rồi sau này mình may mắn lắm mới còn sống để ra Bắc như họ. Được như thế là hạnh phúc lắm rồi ! Cuộc chiến đấu  khốc liệt đang chờ phía trước...

           Gặp gỡ các anh thương binh tới mặt trời lặn chúng tối mới  tìm được bản  Lào để đổi quần áo muối mì chính... lấy gạo nếp gà rượu..rồi lội suối  mò bắt được mấy xâu cá lại ghé bãi khách thương binh  gặp mấy anh đồng hương Nam Hà của thằng Dũng   nấu nướng ăn uống với nhau cả đêm. Đi về mò mẫm đường rừng sợ lạc quá thế mà tôi còm bấm đèn pin hạt đỗ ghi lại bài thơ Bữa cơm Trường Sơn mới đến dọc đường rừng : Đặt ba lô là vo gạo thổi cơm / Bếp đào chông chênh lưng chừng núi dựng / Cá khe Trường Sơn nướng lửa hồng vàng rộm/ Bữa cơm chiến trường thơm tỏa xuống thung sâu / Ai bảo Trường Sơn hiếm cá thiếu rau / Bữa cơm lính vẫn canh riêu ngọt lin / Muôn đời sau hẳn còn dự vị / Bữa cơm rừng tiểu dội chung tay... 

Mỗi lần lính Việt Nam dừng chân ở  Trạm là dân các bản Lào gùi sắn gạo rau bí ngô bí đao vịt gà...ra đổi  để lấy quần áo mì chính muối... Cứ đổi một gói muối nhỏ cũng được con gà  ký rưỡi. Cái quần đùi hay áo lót đổi được cả yến gạo nếp nương. Hình như đồng bào đã quen đổi như thế  với nhiều đoàn quân vào trước nên họ ra giá bằng ngón tay rất nhanh. Việc đồng bào các bản Lào đổi hàng cho bộ đội diễn ra suốt đường hành quân cũng là một cách để chúng tôi giao lưu học hỏi. Định lượng mang đi có hạn không hiểu kiếm đâu ra nhiều áo quần muối mì chính mà tôi thấy đến Trạm nào có dân là lính ta đều rủ nhau vào bản đổi hàng...Cũng nhờ những lần  đi đổi hàng  cho đồng bào  đó mà tôi nói được rất nhiều từ tiếng Lào như  pay là đi mưa là về xamakhi là đoàn kết kinh khẩu kinh nậm là ăn cơm uống nước khọxơn mà mời tucay khăm là vàng tucay là con gà.v.v..

           Ấn tượng nhất có lẽ là  việc vượt đường số 9. Đường 9 là con đường nối  Đông Hà với Savanakhet.  Đường rộng lại trống trải. Cấp trên phổ biến là ở đây địch cài thám báo nhiều chúng  có thể chỉ điểm  cho  máy bay địch oanh kích. Nên phải tuyệt đối bí mật. Cấp trên còn nhấn mạnh hôm nay có Phái đoàn 4 bên  sẽ xuống cầu KaKi kiểm tra tình hình thực hiện Hiệp định Paris . Nên phải không để  phái đoàn phát hiện ra ta "vi phạm Hiệp định" vì tiếp tục đưa quân vào Nam.  Năm 1971 Mỹ-Ngụy mở chiến dịch Lam Sơn  719 ở đường 9- Khe Sanh- Nam Lào  nhằm cắt đứt đường tiếp tế Miền Bắc vào Miền Nam . Nhưng chúng đã thất bại thảm hại. Tất nhiên chúng không bao giờ bỏ việc canh chừng " tử huyệt" này. Cấp trên  ra lệnh mỗi người phải bẻ một cành lá đi qua đường thì quay lại xóa ngay dấu dép trên đường. Cánh giao liên lâu năm kể rằng chục năm trước ban đầu bộ đội ta  phải dùng hai miếng gỗ đặt dưới chân để vượt đường số 9 sau đó tìm ra cách rải tấm vải tăng hẹp qua mặt đường người đi sau cùng sẽ cuộn mang theo. Tuy vậy vượt đường số 9 bao giờ cũng mạo hiểm dễ bị lộ. Có lần làm việc với lãnh đạo Binh đoàn 559 lo cho bộ đội đồng chí Lê Duẩn đã gợi ý Đoàn nên nghiên cứu đào đường ngầm xuyên qua đường số 9. Mặc dầu phương án đào đường ngầm không thực hiện được song gợi ý của đồng chí Lê Duẩn đã giúp Đoàn tìm được một chiếc cống ngầm hai bên miệng cống có cây cối um tùm. Đường kính của cống chỉ một mét. Do vậy muốn qua được từng người phải lần bò khá vất vả. Nên bộ đội chỉ qua đường 9 ban đêm và chạy thật nhanh...

"Quán triệt"là thế nên chúng tôi thức dậy từ 4 giờ sáng để vượt lộ. Mang nặng nhưng đứa nào cũng chạy vụt qua đường thật nhanh chẳng cần cành lá hay tấm vải tăng gì cả. Chúng tôi qua cầu KaKi chẳng thấy bóng dáng Phái đoàn mô cả   ngoài mấy chiếc tăng Mỹ bị bắn cháy từ Lam Sơn 719 cỏ mọc phủ kín cả xích xe.  Nhưng đúng là một bữa chạy đến đứt hơi. Nhiều lúc tôi tưởng mình sẽ ngã quỵ.

Chúng tôi đi trên đất Lào gần hai tháng. Từ  Sepol (Xavanakhet)   qua các tỉnh ven Trường Sơn như Xalavan Atopư. Vào đầu tháng 3 chúng tôi vượt qua cao nguyên Boloven . Địa danh này tôi đã học trong lịch sử bây giờ mới gặp. Thức dậy từ 4 giờ sáng leo lên cao nguyên. Tôi thấy trên cao nguyên  chẳng có bản làng nào cả mà toàn cây dầu cao vút trơ trọi lá cành. Chỉ có những nền nhà xây đã thành phế tích. Có lẽ của người Pháp xưa.  Hành quân tới tận 8 giờ tối  mới tới bãi khách ở chân cao nguyên phía bên kia. Một ngày đi dài nhất. Ở Trường Sơn từ "bãi khách"được nhắc đến nhiều nhất. Bãi khách là một khu rừng nơi bộ đội đóng quân nấu cơm sinh hoạt mắc võng ngủ qua đêm để mai đi tiếp. Đến bãi khách việc đầu tiên là kiếm chỗ mắc tăng võng. Tăng là mái nhà ( nhà thơ Nguyễn Duy có bài thơ Bầu trời vuông là nói về mái tăng bộ đội thời ấy) võng là giường ngủ. Sau mới đến chuyện làm  bếp chỗ nấu ăn. Một Binh trạm của 559 tương đương một Trung đoàn gồm  nhiều Trạm giao liên nối nhau. Từ trạm này qua trạm khác độ đường một ngày. Đến nơi giao quân cho Trạm khác tiếp tục dẫn đường. Tổ chức như thế rất chặt chẽ và an toàn. Có đêm Trạm giao liên đón tiếp  hàng chục tiểu đoàn mỗi đơn vị được bố trí một "bãi khách". Rừng Lào mùa khô  trụi lá cây lại thấp nên tìm khó  ra chỗ mắc võng . Cả tiểu đội tôi phải chặt mấy cây lớn  chôn cọc rồi buộc hai cây nằm ngang để mắc võng. Nghe nói từ đây bắt đầu đi đường bằng không phải leo dốc nữa đứa nào cũng mừng. Một thói quen đã khắc sâu vào trí nhớ đến giờ tôi vẫn không quên là : cứ mỗi sáng thức dậy ở Bãi khách trung đội tập hợp điểm danh . Điểm danh xong trung đội trưởng bao giờ cũng nhắc một câu đã thuộc lòng nhưng ngày nào cũng phải nhắc lại :" Các đồng chí kiểm tra trang bị vũ khí coi có quên thứ gì không : Ba lô súng đạn lựu đạn cuốc xẻng tăng võng bao gạo bình tông dao găm.v.v.." Nghĩa là xưng hết tất cả những thứ mà người lính phải mang theo dọc đường đi. Thế mà có đứa còn quên do mệt hoặc đau ốm...

Qua cao nguyên Bloven là đến  gần thị trấn Atopu thấy cảnh sinh hoạt của  các bản Lào ở đây giàu có hơn họ ăn mặc Âu hơn diện hơn các tỉnh phía ngoài. Vì mai là ngày "chủ nhật" nên lính tha hồ đổi chác. Có đứa  buộc lủng củng trên ba lô hàng xâu gà. Mấy anh em tiểu đội tôi cũng mở ba lô lục lọi ra tất cả những thứ gì có thể đổi được mà không ảnh hưởng lắm đến sinh hoạt để gom đưa cho Đảm và Trung đi đổi. Hai đứa đổi được 4 kí gạo nếp hai chai rượu 2 con gà. Rồi Trạm 80 cấp  cho gạo thịt vừng mắm nên bữa ăn chiều rất rôm rả. Thế mà hai ngày hành quân căng thẳng tôi mệt không nuốt được cơm thằng Thước thì sốt li bì không ăn gì được. Hôm qua thằng Tùng ( cũng lính Đại học Thương nghiệp nó học Khoa ăn uống) cũng sốt phải đi cấp cứu trạm xá không kịp hành quân cùng Sư đoàn. Thế là mất thêm thằng bạn lạc đơn vị....Trên đường hành quân nhiều đứa bị nạn một cách  bất ngờ lắm. Thằng Khỏe ở A3 nó khỏe như trâu thế mà do đói nó  thấy có cây giống cây môn dưới suối nhổ luộc ăn   thế là sùi bọt mép cấm khẩu phải đi cấp cứu. Rồi không biết tính mạng nó ra sao chắc nó sẽ không về lại đơn vị nữa...

Trong lúc cả tiểu đội đang ăn cơm thì nghe tin dữ : thằng Hợi lính cùng B2 ( B là trung đội)  đi ném cá cải thiện bị thác cuốn chết. Thật đau khổ cho gia đình đang mong dợi từng ngày ở hậu phương. Có người chết  nên cả Tiểu đoàn phải ở lại  chờ vớt xác mới đi tiếp. Chúng tôi phải phân công nhau túc trực ba ngày mới vớt được xác Hợi. Người hắn  trương phồng co quắp và đã bốc mùi thối. Đêm cấp trên phải điều  ca-nô chở đi chôn. Không ai biết chôn ở đâu có đánh dấu để sau này mà tìm đưa xác về quê không ?...

Những ngày trung tuần tháng 3 năm 1973 dọc đường mòn hành quân dưới rừng già trên đất Lào chúng tôi thấy có  hai sự việc rất hi hữu mà lính bàn tán xôn xao suốt tuần liền : Một là chuyện Quốc vương Cămpuchia Xihanúc về thăm nước mình bằng đường bộ Trường Sơn và chuyện miền Bắc vận chuyển cả tiền vào cho miền Nam đánh giặc!

 Vâng có ngày  chúng tôi thấy một đoàn bộ đội rất đông đang khiêng một chiếc cáng trĩu nặng đi ngang qua lối mòn gần bãi khách chúng tôi. Chiếc cáng ( hay võng ?) được trùm kín mít bằng  loại vải Tô Châu còn mới. Vài ngày sau anh trưởng Trạm giao liên ghé tai thì thầm : Quốc vương Xihanúc về thăm Cămpuchia vừa đi qua đây hai ngày trước. Cả Binh trạm được lệnh  tuyệt đối giữ bí mật và triển khai quân bảo vệ chu đáo. Ông Xihanúc là vua rất được nhân dân Cămpuchia tôn sung. Những năm  gần đây ông sống lưu vong khi ở Pháp nhưng phần nhiều thường ở Trung Quốc. Ông ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Ông cho bộ đội Việt Nam hành quân vào Nam qua đường Cămpuchia. Năm 1969 sau Mậu Thân Mỹ  và quân đội Sài Gòn tập trung mở các cuộc hành quân lớn càn quét truy đuổi  bộ đội chủ lực quân giải phóng  rất khốc liệt. Nhiều sư đoàn bộ đội ta phải đứng chân trên đất Cămphuchia vì được sự đồng ý của bạn. Chắc Quốc vương về nước bí mật để thị sát tình hình.... Là người lính tôi  thấy đây là chuyện rất lạ. Thì ra đến vua cũng phải hành quân vượt Trường Sơn nói gì đến lính tráng tôi cứ nghĩ đến sự so sánh ấy là tự nhiên trong người đường xa mang nặng không biết mệt  . Những ngày hành quân ấy tôi cứ tưởng đây là chuyện đồn thổi của mấy ông Binh trạm dọc Trường Sơn để làm tăng  vị thế của Binh đoàn 559 trong mắt bộ đội. Không ngờ  sau này mới biết chuyện Quốc vương Xihanuc về nước bằng đường Trường Sơn là chuyện có thật . Ở Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn ở Quảng Trị có ngôi mộ của  đại tá Đặng Tính Chính uỷ của bộ đội Trường Sơn. Theo ghi chép "Thấp thoáng Trường Sơn " của nhà văn Trần Nhương thì "Đại tá Đặng Tính đã hy sinh trên đường đi triền trạm cho quốc vương Xihanúc vượt Trường Sơn về Campuchia" . Hóa ra chuyện quốc vương Xihanuc vượt Trường Sơn là điều có thật !

Việc thứ hai là có lần được nghỉ một ngày chúng tôi đi lội khe bắt cá. Bỗng gặp một đoàn  bộ đội khiêng cái gì vuông như chiếc hòm rất nặng đi qua đường. Chúng tôi hỏi dò cán bộ Trạm họ to nhỏ cho biết đó là bộ đội ta đang vận chuyển tiền vào miền Nam để chi cho các nhu cầu hoạt động của cuộc kháng chiến. Cái hòm nặng mà họ khiêng ấy là cái két đựng tiền. Tiền đô-la và cả tiền của  Chính quyền Sài Gòn từ miền Bắc chuyển vào. Họ phải khiêng leo đèo lội suối vượt ngàn cây số vào tận Trung ương Cục miền Nam ( gọi là R) ở Tây Ninh. Tất nhiên là bộ đội Trường Sơn khênh chuyển truyền nhau từ trạm này qua trạm khác . Ra là vậy. Sau này về sự đoàn tác chiến ở miền Đông Nam Bộ tôi mới tin điều đó là thật. Vì ở miền Đông Nam bộ lính chúng tôi được phát tiền phụ cấp tiêu vặt ngoài ăn uống. Sĩ quan cũng như lính đều 2000 đồng tiền Sài Gòn một tháng. Rồi phải mua gạo mắm muối cá thịt vải vóc.v.v.. cho như cầu của bộ đội đánh giặc. Mà cách mạng thì tập trung kháng chiến chứ có buôn bán gì mà ra nhiều tiền. Tất nhiên nguồn tiền từ miền Bắc chuyển vô đó từ đâu ra thì ai mà biết được. Có thể do các nhà tình báo cách mạng đóng vai tư bản buôn bán ở Nômppênh Băng Cốc Viên Chăn Hồng Công .v.v.mà có tiền. Ở Đại đội 7 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 141 Sư đoàn 7 ( gọi theo ký hiệu chiến trường C7 D2 E141 F7) của tôi anh chính trị viên đại đội rất dũng cảm tên là Nguyễn Ngọc Đại ( người Nam Định) là Việt kiều Thái Lan về nước những năm 1960. Khi rỗi rãi ở hậu cứ thấy tôi là lính có học lại hay viết báo làm thơ anh Đại thường tâm tâm sự với tôi bố anh là nhà buôn lớn ở Thái Lan nhưng là người của cách mạng. Có thể những người như thế đã làm ra tiền đóng góp vào cuộc kháng chiến của dân tộc.  

                         

mến

cảm phục

cho tôi được khóc và tôn thờ trước những tượng đài lịch sử

tranbinhkb

Gửi nhà thơ Ngô Minh

Chúng tôi là nhóm Nghiên cứu và Bảo tồn Ký ức Xã hội. Nhóm chúng tôi có xây dựng website Bảo tàng Ký ức Xã hội để lưu giữ và chia sẻ ký ức của mọi người.
Chúng tôi có đọc blog này của nhà thơ và nhận thấy một số bài viết phù hợp với nội dung của BTKUXH.
Vậy nên chúng tôi mạn phép xin ý kiến nhà thơ cho phép chúng tôi đăng lại bài viết 100 ngày vượt TS này và phần trích đoạn trong cuốn sách Hồ quê trầm tích trên BTKUXH.
Kính thư

tranbinhkb (trưởng nhóm email: tranbinhkb@gmail.com)

Ngô Minh

Gửi Dung

Cám ơn Dung đã chia sẻ. Post lâu rồi nhưng có lẽ dài quá ít người đọc.

Dung

. Bài này hay đó bác Cảm ơn bác đã port bài