KÝ ỨC BỘ ĐỘI : 100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN (tiếp theo và hết)

100 NGÀY VƯỢT TRƯỜNG SƠN  (tiếp theo và hết)
Hồi ức của Ngô Minh

3. TỪ NGÃ BA ĐÔNG DƯƠNG

Ngô Minh 1973
      
Qua hết tỉnh Salavan Atopu là đến sông Sê kông. Thằng Trung có mang theo cái bản đồ nhỏ tra mới biết sông Sê Kông bắt nguồn từ Trường Sơn chảy qua núi rừng Salavan Atopu (Lào) vào đất Cămpuchia đến Kracheh thì đổ vào sông Mê Công. Đây là biên giới Lào-Cămphuchia. Nghe trưởng Trạm giao liên nói ở đây về vùng Bờ Y tỉnh Công Tum Việt Nam chỉ hơn ngày đường. Nghĩa là đây là vùng NGÃ BA ĐÔNG DƯƠNG. Từ đây đường rừng bằng phẳng hơn rừng cây rậm rạp hơn. Trên cho biết chúng tôi sẽ đi trên đất Cămphuchia cho đến khi gần Nam Bộ thì rẽ về nước. Cả đi bộ và đi bằng ca-nô. Dạo này ba nước Đông Dương hữu hảo nên bộ đội Việt Nam được hành quân trên đất bạn. Nghĩa là con đường Trường Sơn mang trong nó cả cao nguyên Boloven Lào sông Sê Công Mê Công Cămpuchia . Đó là là điều kỳ diệu mà lúc ở miền Bắc ít ai tưởng tưởng ra !

Ngô Minh ( phải) ở rừng Tây Ninh 1973
Chúng tôi được ca-nô lớn chở đi dọc sông Sê Công . Dòng Sê Công lớn bằng sông Gianh quanh co khúc khủy và có nhiều  bãi đá thác đá lởm chởm. Bầu trời ngã ba Đông Dương không một gợn mây. Ca nô xuôi ngược trên sông tự do lắm. Máy bay địch bay quần đảo liên tục nhưng không phân biệt được  thuyền của dân và thuyền của "Việt cộng" nên đành  lượn vòng bỏ mấy quả bom vào rừng dọa rồi về.

Hành quân trên đất  Miên nhật ký của tôi  ghi được nhiều kỷ niệm đẹp của đời lính vượt Trường Sơn. Một ngày nghỉ đợi ca nô bên bờ Sê Công tôi và Phan Văn Các (cũng sinh viên Đại học Thương nghiệp quê Quảng Bình) và Dũng Trung gặp một đồng hương Quảng Bình rất thú vị. Anh tên là Dật quê ở xã Quảng Thanh. Anh ở Tiểu đoàn đánh cá và sản xuất ruốc cá cho Quân giải phóng. Cá các anh đánh bắt dọc sông Sê Công Mê Công là loại cá tra. Có con  nặng tới  ba bốn kí. Cá được tàu chuyển về căn cứ có xưởng biến thành  ruốc cá đóng gói để cung cấp cho các Trạm giao  liên phục vụ bộ đội. Anh rủ chúng tôi vào hậu cứ của đơn vị anh chơi. Anh ở trong  lán lợp bằng lá trung quân nhưng có giường nằm gác để ba lô bàn  ăn  đóng bằng tre gỗ rừng rất tươm tất. Gặp đồng hương mới vào anh vui lắm. Anh  rối rít đi kiếm cái  để thết đãi. Chỉ hơn tiếng đồng hồ bữa cơm đã dọn ra với nhiều thư thịt cá cơm trắng rau cải xào rồi rượu thuốc lá "con gà" "cô táp" chè Miên... rất đàng hoàng. Thế mà anh cứ xuýt xoa là chẳng có gì chẳng có gì". Anh bảo anh vào chiến trường B2 đã năm năm. Đánh nhau bị thương ở đường 13 được về đây "tăng gia sản xuất" từ năm 1971. Rồi anh kể vợ chồng anh mới cưới mấy ngày thì anh lên đường. Anh đưa ảnh và thư vợ anh cho chúng tôi xem. .Bức thư viết sau một giấc mơ đẹp. Chị được đón anh về để rồi tỉnh dậy bàng hoàng vì quờ tay không có anh bên. Chị mong có một đứa con trai nhưng anh đi vội quá . Cuối thư chị  ghi hai câu :" Anh đi em đảm việc nhà / Cho anh ở chiến trường xa yên lòng". Đó là khẩu hiệu của Phụ nữ Ba đảm đang ngoài Bắc thời đó. Rồi anh bắt chúng tôi phải cắt tóc vì "tóc đứa nào cũng sắp thành con gái rồi" ! Tôi thấy lạ là ở rừng râu thế này mà chỗ anh có cả bộ kéo tong-dơ dao cạo cắt tóc rất đàng hoàng. Khi chia tay anh bảo :"Vào chiến trường hãy thận trọng . Vì  bốn phía đều có địch. Cẩn thận nhưng  đừng yếu hèn...".Rồi anh kể ở trong các bản người Miên gần đây có mấy đứa bội đội miền Bắc trốn đơn vị ở lại bản Miên rồi lấy vợ đẻ con sống chui lủi đen nhẻm không khác gì người Miên chẳng ra cái gì!

Tạm biệt anh chúng tôi lên ca-nô lúc 4 giờ chiều. Đêm nay ca-nô  đi qua nhiều ghềnh đá lởm chởm chảy xoáy trôn ốc. Chiếc ca-nô cứ lao như ô tô qua ổ gà tưởng đến vỡ. Nhưng bù lại trăng sáng lắm. Trăng lung linh làm cho mặt như dát bạc. Thế là đã ba mùa trăng rồi tôi lên Trường Sơn...

Càng gần Nam Bộ máy bay địch hoạt động càng ráo riết hơn. Bắt đầu từ sáng sơm máy bay địch đã hoạt động. Có lần cả tiểu đoàn phải ngồi im như đá giữa bãi trống. Nó mà phát hiện ra  thì đi đứt cả lũ . Máy bay phản lực AC130 và cả B52 nữa. B52 đã ba lần rải bom dọc theo sông gần nơi tiểu đóng đóng quân. Hình như địch  ngửi thấy mùi các đơn vị lớn bộ đội miền Bắc đang vào Nam Bộ. Sau mỗi loạt bom chúng tôi lại hì hục củng cố công sự. Đoàn Thanh Hóa ở ngay sát tiểu đoàn tôi đã bị bom trúng đội hình. Hai đứa chết 10 đứa bị thương. Đất đá cành cây bắn rào rào vào  bãi khách chúng tôi. Tiểu đoàn cấm lính ra sông rửa chân tắm. Thế là ở bên sông mà phải đeo tất ngủ. Nguy hiểm nhất là loại máy bay AC130. Nó vừa là máy bay trinh sát vừa là máy bay chiến đấu. Phát hiện mục tiêu là nó rà xuống sát rạt   bắn róc-ket thả đạn cối . Để đối phó với máy bay AC-130 Binh đoàn 559 đã làm một tuyến "đường kín" ( ký hiệu mật đường K)  dài 800 cây số đưa vào sử dụng từ năm 1972. Trên tuyến này xe chạy dưới tán rừng già âm u có biển chỉ đường hẳn hơi máy bay khó phát hiện. Các đơn vị phòng không của  559 đã dùng xe ô tô hỏng nghi binh giả chở hàng như đang chạy thật để bẫy AC-130 cho lực lượng phòng không bắn thế là mấy chiếc AC-130 bị bắn rơi. Nhưng đó là chuyện của năm ngoái. Còn bây giờ  C130 đang  vòng vèo trên đầu chúng tôi. Thế mà tranh thủ giờ nghỉ trưa tôi đã viết được lá thư gửi cho Nga người yêu tôi đang công tác ở Hà Nội. Ở các Trạm giao liên trong này có rất nhiều thương binh ra Bắc nên tôi đã viết rất nhiều thư cho Nga. Nghe Đảm kể hắn cũng cũng  đã gửi cho Quỳnh hơn 10 lá thư. Viết để làm nguôi lòng người hậu phương đang mong đợi. Chứ không mong gì hồi âm. Nga ơi anh vẫn yêu em vẫn thương em vô cùng...

Đơn vị đang vượt rừng đến  Trạm T90 thì một con nai từ trong rừng già bỗng phóng ngang qua đội hình. Có lẽ nó đang bị săn đuổi. Tiểu đoàn trưởng Ngàn nhanh như chớp rút súng ngắn bắn hai phát con nai lăn xuống dốc. Mấy đứa chạy theo bắt được khuân về. Nó nặng gần tạ. Thế là cả tiểu đoàn nghỉ  mấy phút để làm thịt nai. Lính Trường Sơn xẻ thịt nai rất thiện nghệ. Không cần nấu nước sôi cạo lông gì hết.  Chỉ bằng dao găm và lưỡi  lam cạo râu chưa đầy chục phút lính đã xẻ con nai làm 4 đùi chia cho 4 đại đội. Đại đội lại xẻ chia cho từng tiểu đội. Đến tối về Trạm nghỉ chúng tôi mới cạo lông cắt thái và xào nấu. Tối hôm ấy có thịt nai nên chúng tôi  ăn rất ngon cơm . Mới hay cuộc sống Trường Sơn cũng tươi ra phết !

Trạm T96 là Trạm cuối cùng theo biên chế miền Bắc. Từ đầu tháng 4 chúng tôi được bàn giao cho Trạm 1 Quân giải phóng trong tuyến giao liên Trường Sơn do Bộ chỉ huy Quân giải phóng ở R (Tây Ninh) chỉ huy. Đây là nơi đón quân từ Bắc vào B2 và làm chính sách cho thương binh ra Bắc. Nghe nói so với các chiến trường cuộc sống của bộ đội B2 là "đàng hoàng" hơn . Trạm đóng quân trong một  khu rừng rậm có cổng chào nhà cửa làm bằng gỗ lớp lá trung quân rất đàng hoàng có câu lạc bộ thanh niên báo tường khẩu hiệu. Vào đây lính được đổi toàn bộ trang phục tăng võng theo "kiểu B2". Võng dù tăng làm bằng vải nhựa rất mỏng có thể gấp lại bằng nắm tay. Còn quần áo thì đủ màu sắc may bằng vải ni-lon mỏng cho dễ khô vì Nam Bộ sông nước nhiều. Thay ba lô con cóc bằng cái túi có quai đeo lưng gọi là "bòng". Tôi nhìn anh em thương binh B2 chuẩn bị ra Bắc ăn mặc cũng xanh đỏ tím vàng trông như văn công về làng diễn văn nghệ.

Vào đến Binh trạm Giải phóng lính ăn theo tiêu chuẩn chiến trường B2 : Mỗi đứa  được phát 15 đồng Rịa (tiền Cămpuchia) một ngày để mua thức ăn (bằng khoảng 5 đồng tiền  Cụ Hồ cũ ). Còn gạo thì đến kho nhận. Mỗi tháng sĩ quan hay chiến sĩ đều được 150 đồng Rịa là phụ cấp tiêu vặt. 150 đồng đó có thể mua được chiếc đồng hồ Orien ba cửa sổ rất sang trọng. Khi về đến miền Nam sẽ được nhận phụ cấp bằng tiền Sài Gòn. Ngày hôm đó tôi và thằng Thước được  tiểu đội cử  đi nhận thực phẩm của Trạm . Chà đủ thứ ngon lành như  chè gói thuốc lá Cotáp đường sữa ruốc cá thịt hộp rồi gạo trắng.v.v.. Có tiền có  thực phẩm ngon lính lại rủ nhau bù khú cho bõ những ngày hành quân khô khát. Được nghỉ lính ra căng tin Trạm mua nước ngọt thuốc lá...Giao liên kể hàng hóa đó Trạm mua của các nhà tư bản ở Sài Gòn Nôngpênh...Học đại học thương nghiệp nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy những thứ hàng có  bao gói nhãn hiệu đẹp lộng lẫy như thế này...

Vào B2 chúng tôi chuyển sang hành quân đêm. Trên vai mỗi đứa đên 8 ngày gạo rồi bao thứ thực phẩm trang phục vừa mới được cấp phát làm chiếc "bòng" căng phè như cái bao tải nặng hơn cả  lúc xuất quân ở Thái Nguyên. Đường đi tối om om. Qua quãng rừng thưa đứa sau mới nhìn được đứa trước một cách lờ mờ. Còn trong rừng rậm thì chỉ bước theo tiếng động đằng trước. Hai mắt mở căng nhìn vào đêm tối sợ lạc. Đứa nào cũng vấp ngã dúi dụi. Tôi cũng nhiều lần bị gập chân đau tận tim. Đi 3 tiếng đồng hồ  không giải lao bình tong thằng nào cũng cạn nước khát rát cổ mà không dám kêu. Nhiều anh không đi kịp mệt mỏi ngồi tụt lại bên vệ đường trong đêm tối không biết lính trung đội nào ngồi như thế ngủ quên dễ bị lạc đơn vị lắm...

 Hành quân đêm liên tục anh em đứa nào cũng gầy rạc con mắt cứ sâu hoắm. Nhìn bóng đoàn quân đi âm thầm dưới trăng mờ băng qua những cánh đồng trong đêm trăng mờ tôi cứ  nghĩ đến hình ảnh đoàn quân chinh  chiến trong phim Tàu. Sự cố gắng của mỗi người lính quyết liệt mà thầm lặng vô cùng. Những  người vào  B2 trước kể trên đất Miên có những cánh đồng đi hai ngày chưa qua hết lính giải phóng gọi là "cánh đồng chó ngáp" vì chó qua đó cũng phải ngáp huống người !

Ấn tượng nhất là qua sông Mê Công. Đời mình không  ngờ lại được soi mình  xuống dòng sông vĩ đại này. Lần đầu chúng tôi sang sông để qua Trạm quân giải phóng. Ca-nô chở mỗi chiếc một nửa đại đội. Đi sang ngang mà phải mất cả tiếng đồng hồ. Chúng tôi hè nhau vục đầy bình tông nước sông Mê Công để uống mà nhớ để về khoe với em với mạ. Giữa sông tôi thấy rất nhiều đảo. Mùa khô nước sông cạn mà nhìn sông mênh mông không thấy bờ bên kia. Đến mùa mưa chắc sông rộng lắm. Một lần khác chúng tôi lại qua sông Mê Công. Nhưng lần này phải đi bộ 5 tiếng đồng hồ qua các thôn xóm đồng bào dọc sông nên  lính ta rất phấn khích. Giao liên cho hay đây là vùng Stungtriêng. Bản làng sầm uất lắm. Họ làm ruộng ngay cạnh nhà.  Vườn nhà nào cũng có mít chuối xoài trĩu quả. Những hàng thốt nốt chạy dài trong hoàng hôn như đoàn người rũ tóc dưới trời. Không hiểu   Binh trạm với địa phương phối hợp thế nào mà dọc đường tôi thấy có từng tốp du kích Cămpuchia đứng gác đen như tượng đồng vác dao quắm dài sáng quắc dưới trăng trông rất sát khí. Thằng Trung bỗng cất tiếng chào " Sốcxơbai !" " "Campuchia trâydo" ( chúc sức khỏe Cămphuchia muôn năm) Thế là mấy anh du kích Miên cười chào rồi đồng thanh  hô " Sốcxơbai Việt Nam " " Việt Nam traaydo". Rồi họ vui bắt tay từng người.  Thằng Trung kể nó vừa học được mấy tiếng tiếng Miên xin chào mời uống nước ( pậc tấc te) ở Trạm giao liên . Nó bảo nó còn nói được cả tiếng Nòng xalăn bòng tê ( Yêu anh không ) nữa cơ....Cái thằng giỏi thiệt.

Đi  suốt năm tiếng đồng hồ mới đến  bến qua sông. Sông Mê Công đoạn này nước đầy hơn ít đảo đá nhìn  sang  bên kia ngun ngút không thấy bờ. Mỗi ca-no chở 80 đứa lao trong đêm như tên bắn. Thế mà Đảm bấm đồng hồ phải 30 phút  mới sang được bờ bên kia. Cấp trên phổ biến ở đây cách thị xã Kraicheh khoảng  bảy cây số sẽ là nơi hành quân rẽ về Tổ Quốc. Từ Kraicheh về Biển Hồ ( hồ TongleSap ) không xa nữa ở đó nhiều người Việt lắm. Những thông tin đó làm đứa nào cũng phấn chấn.

Mắc võng
Từ Ngã ba Đông Dương chúng tôi phải hành quân đêm đi qua tới 20 trạm giao liên mới hết đất Cămpuchia.  Lính mất ngủ mệt bã người. Dạo này máy bay địch hoạt động dữ lắm. Chúng tôi đi qua nhiều bãi bom B52 còn mới nguyên . Có đêm đi dọc con lộ rất rộng máy bay gầm rú rồi thả pháo sáng  ngay trên đầu. Cả tiểu đoàn phải dạt sang bên đường ngồi im như đá. Có ngày địch bắn phá làm tắc đường  phải nghỉ hai ngày. Nhưng đã bắt đầu những trận mưa đầu mùa. Gần ba tháng đi trên đất Lào đến nay mới được trận mưa mát mẻ quá. Ở Trạm nghỉ lính đứa nào cũng cởi trần nhảy nhót reo hò tắm mưa như trẻ nhỏ. Ở Nam Bộ mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng Tư đến cuối tháng 10 mùa khô từ đầu tháng 11 đến giữa tháng Tư.

Ngày 21 tháng 4 năm 1973 chúng tôi  được hành quân ban ngày trên con lộ rộng từ Kraicheh thẳng về hướng Đông để về Tổ Quốc. Nghe nói sắp về tới Tổ Quốc thân yêu đứa nào cũng bước hăm hở chuyện trò rôm rả. Hôm nay máy bay địch cũng vắng. Đến bên con suối nhỏ thì dừng lại. Giao liên cho biết đây là biên giới Việt Nam-Cămpuchia con sông nhỏ là là Sông Măng . Con sông phân cách hai nước này như một con suối nhỏ ở trước nhà tôi. Mấy đứa Đảm Trung Dũng Thước Các Hồng lội ào qua sông Măng  rồi bỗng sụp xuống cúi lạy sát đất rồi đồng thanh  hét lên :" Tổ Quốc ơi con đã đến đây !". Tôi không kịp làm theo thì Đảm đã ôm lấy tôi khóc nức nở :" Khôi ơi đến rồi đến rồi !".Chúng tôi là sinh viên đại học dù Trường Sơn gian khổ ác liệt đói khát nhưng bao giờ cũng sống rất lãng mạn và  rất sách vở . Đó là phẩm chất đã giúp chúng tôi giữ được niềm tin để đi trọn 100 ngày vượt Trường Sơn. Tranh thủ giờ giải lao tôi lấy nhật ký ra ghi vội :" Thế là đã qua 3 tháng 10 ngày  hành quân liên tục. Mình đã đến nơi cấn đến. Cám ơn đôi chân dẻo dai dù có lúc phải lê từng bước nặng nề. Cám ơn đôi vai đường xa gánh nặng dù có lúc tưởng nát bầm ra. Cám ơn cây rừng Trường Sơn 100 đêm ta mắc võng. Mạ ơi mạ có biết con vẫn rất khỏe sau cuộc trường chinh lội suối leo đèo suốt 3 tháng 10 ngày ? Nếu mạ nhìn thấy con bây giờ chắc mạ mừng lắm. Bây giờ con đang ngồi trên đất miền Nam cách Sài Gòn chỉ hơn 120 cây số thôi để nhớ mạ...Nga ơi anh đã đến nơi tập kết. Tình yêu em là Chúa đã đưa anh đến đích an toàn..."


           Đây là đất Lộc Ninh tỉnh Bình Long ( bây giờ là Bình Dương) là điểm cuối của con đường  Hồ Chí Minh lịch sử . Rừng cao su xanh tốt bạt ngàn. Sư đoàn tân binh đóng trong rừng su chờ phân về các đơn vị mới. Nghe nói phải chờ mấy ngày nên  các tiểu đội phải làm nhà đào hầm. Đang đêm một cơn lốc xoáy qua rừng su. Cao su gãy răng rắc. May "nhà" của  10 thằng tiểu dội tôi không việc gì. Nhưng  sáng ra nghe Đại đội thông báo đêm qua Đại đội 3 có  hai người bị cành su gãy đâm thẳng vào người một đứa chết ngay trên võng một bị thương... Ôi đến nơi rồi mà cái chết vẫn đeo đuổi người lính...

Và cuộc chiến đấu những ngày sắp tới sẽ ác liệt hơn nữa...

                       4.   LỘC NINH ÁM ẢNH

            Sau này Bộ Quốc phòng và Bộ Tư lệnh Binh đoàn 559 đã xác định  tuyến đường Trường Sơn huyền thoại mang tên Hồ Chí Minh khởi đầu từ thị trấn Lạt huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An và kết thúc ở Lộc Ninh. Ở Lạt Binh Đoàn 559 đã xây dựng Cột mốc số 0 rất  hoành tráng ở Lạt. Còn bây giờ chúng tôi đang ở Lộc Ninh điểm cuối của con đường lịch sử sau 100 ngày hành quân gian khổ chờ các đơn vị về nhận quân. Trong thời gian chờ đợi hơn tuần ấy tôi Đảm Dũng Trung Thước đã có một kỷ niệm nhớ đời với các chị nữ tù nhân vừa được trao trả tại sân bay Lộc Ninh theo Hiệp định Paris. Lật lại trang nhật ký ghi ở Lộc Ninh năm 1973 tôi bỗng bần thần ứa nước mắt. Bao nhiêu kỷ niệm cũ sống lại tươi rói. Ba mươi sáu năm rồi ngỡ như trí nhớ con người đã phôi phai theo thời gian lãng du và cuộc mưu sinh bầm dập sau chiến tranh không ngờ tất cả vẫn còn. Những người nữ tù quê Quảng Trị Huế gầy guộc bủng xanh ngày ấy vẫn ám ảnh tôi. Đó là  "đêm nói tiếng Quảng Trị" ở làng 7 Lộc Ninh bên kia rừng cao su...

         Tháng tư những trận mưa đầu mùa trút xuống rừng cao su nghe như bão. Đất miền Đông dính như bột sắn lọc nhuộm đỏ. Ra khỏi "lán" một quãng đế dép râu đã dày thêm cả gang đất. Ấy thế mà không biết ai đi đâu đưa về một tin làm chúng tôi náo nức : Có nhiều chị em nữ tù người Quảng Trị vừa được phía địch trao trả đang ở Lộc Ninh! Chả là tiểu đội tôi toàn anh em sinh viên cùng một trường Đại học Thương nghiệp ở Hà Nội nhập ngũ trong đó có hai đứa dân Quảng Trị gộc là Võ Văn Đảm và Lê Nam Trung (người Vĩnh Giang Vĩnh Nam Vĩnh Linh). Còn tôi thì nửa nạc nửa mỡ : mẹ Vĩnh Linh Quảng Trị bố Quảng Bình. Ngoài ra còn nhiều anh em ở Nghệ An Hà Nam ... Nên khi nghe tin có người Quảng Trị thì mừng lắm kéo nhau đi tìm bằng được. Đường sá lạ hoắc địch tình chưa thạo thế mà chúng tôi cứ liều đi tìm. Ra khỏi rừng su thăm thẳm ướt át qua khỏi một đồi tranh chúng tôi phát hiện ra mấy cái lán lợp tranh còn mới. Và hỏi thì đúng là lán của anh chị em tù vừa trao trả đang chờ hồi hương. Nhưng hỏi mãi mới hay mấy chị Quảng Trị cũng đang "đi tìm đồng hương" ở làng 7!

          Cuộc tao ngộ kỳ lạ và cảm động giữa anh em lính chúng tôi và các chị đồng hương diễn ra tại căn nhà gỗ lợp tồn của chú Sáu dân Cam Lộ tha phương kiếm sống từ những năm bốn mươi. Biết chúng tôi là những sinh viên ở Hà Nội mới đi lính và vào tận "B2" các chị rất cảm động và rất thương. Nhưng khi Đảm Trung và tôi tự giới thiệu là người Quảng Trị thì các chị nhìn nhau tỏ vẻ nghi ngờ. Có lẽ vì anh em chúng tôi ở trong một đơn vị toàn lính miền Bắc nên phải nói tiếng lơ lớ pha Trung pha Bắc   nói "tiếng phổ thông" đồng đội mới nghe nhau được. Ngay các chị và chú Sáu tôi cũng nghe giọng đã pha Trung pha Nam không còn "từ ngữ" và giọng Quảng Trị nữa. Đang  hồi "gay cấn" chị Ngân người lớn tuổi nhất bỗng nói một câu dài bằng "tiếng Quảng Trị":

          - Mấy út nói mấy út người Quảng Trị miềng mấy ả mờng hung lắm ! Răng mấy út nỏ nói tiếng Quảng Trị mô cả. Út mô nói một câu chi thiệt dài rặt tiếng Quảng Trị miềng coi?

          Như bấm đúng huyệt căn phòng chú Sáu bỗng rôm rả hẳn lên. Đảm và Trung tranh nhau hích vào vai nhau để giành nói. Chị Ngân thấy Trung trẻ nhất đám chỉ vào nó : "Út ni". Trung vốn là dân lém lỉnh có tài kể chuyện nên được chị Ngân chỉ định nói "tiếng" Quảng Trị mắt nó long lanh rồi hấp háy hai tay xoa xoa vào nhau làm bộ điệu :

          - Mấy ả ơi mấy ả mần răng cho tui mạn cấy vá tui múc vá mói tui nêm tréc keng bù để tui bơng cho mệ tui một đọi mệ tui húp cho mát rọt! ( Mấy chị ơi mấy chị làm sao cho tôi mượn cái muôi tôi múc muôi muối tôi nêm nồi canh bầu để tôi bưng cho bà tôi một bát bà tôi ăn cho mát ruột)

          - Rứa là thiệt người quê miềng đặc sệt rồi chi nữa - chú Sáu cười ha hả quờ tay xuống gầm tủ lôi ra chai rượu ...

          Chúng tôi cũng cười thằng Nguyễn Anh Dũng học đại học với tôi bốn năm ròng ở Hà Nội ngày nào cũng nghe tôi nói tiếng miền Trung  "trọ trẹ" mà lần này nghe thằng Trung nói xong cứ ngớ ra tròn xoe mắt chẳng hiểu mô tê gì cả. Còn cả sáu người phụ nữ Quảng Trị thì nước mắt ràn rụa. Có người khóc nấc lên thành tiếng. Thì ra đã bao năm tù tội mỗi người một phương các chị chưa hề được lần nào nghe một câu nói "tiếng quê hương" đậm đặc đến như thế! Tôi cứ bàng hoàng không hiểu sao cái thứ ngôn ngữ "quê mùa" ấy nó lại có sức mạnh ghê gớm đến vậy. Sau đó các chị giới thiệu tên kể chuyện nhà tù đều bằng tiếng Quảng Trị. Chúng tôi cũng giới thiệu tên từng đứa kể chuyện hành quân bằng cái thứ tiếng mà thằng Trung đã nói. Cô Hồng (tức Tịnh) người trẻ nhất trong các chị quê ở Hải Quế Hải Lăng có đôi mắt rất xinh quay sang nói :

          - Em Khôi nói chi đi răng mà bụt rứa!

          - Tui nỏ biết nói chi hơn tui xin đọc thơ. Ở Quảng Trị miềng thời chống Pháp có nhà thơ Hồ Vi hay lắm. Eng mần thơ toàn bằng tiếng Quảng Trị ai nói "quê" cũng không chịu sửa cứ để vậy mà ai cũng nhớ cũng thuộc .Tôi cũng nói "tiếng" Quảng Trị rồi đọc bài thơ Lời Quê của Hồ Vi : Mấy bữa ni rồi trời thiếu nắng / Chừng chưa bưa lụt nước còn cao / Khi hôm bộ đội hành quân tới / Trấn thủ dầm phơi chật cả sào. / Mạ mi đem dủi ra ngoài ruộng / Kiếm ít đam cua chút của đồng / Thêm đôi ba miếng anh em đõ / Của nhà quê kiểng buổi thu đông

                   Bớ anh nội vụ khoan đi chợ

                   Xa ngái đường trơn bấm cực chân

                   Xuồng bên chị Mót buôn tơi nón

                   Anh nhảy mà đi được đỡ chừng...

           

             Bài thơ "Lời quê" của Hồ Vi không ngờ lại làm cho không khí đêm vui trầm xuống thâm nghiêm xao xuyến. Chị Ngân bắt tôi đọc lại bài thơ một lần nữa đọc rõ từng tiếng một .Vâng "lời quê" đã vào thơ đã vang lên trong tâm khảm kéo con người về với cội nguồn. Nhiều chị rút khăn mùi xoa chấm đôi mắt đỏ hoe. Tôi vừa đọc thơ vừa gìm giữ để không bật khóc !

          Những ngày sau đó Đồng Hương Quảng Trị Đồng Hương Bình-Trị-Thiên (vì trong đoàn các chị có cô Hương người Phong Điền) liên tục họp. Khi thì ở nhà ông Sáu khi thì ở nhà của "các chị tù nhân" ở Lộc Thạch. Qua câu chuyện tôi biết thêm rất nhiều những người nữ tù nhân ấy. Các chị hoạt động biệt động "đi" du kích là cơ sở giao liên bị lộ bị bắt. Có chị đã bị tù mười năm tám năm qua nhiều nhà giam nổi tiếng như Thừa Phủ Chí Hòa Phú Quốc Côn Đảo. Người bị tù ít nhất là Hồng cũng đã hơn bốn năm rồi. Chị nào cũng mang vết thương trên người do tra tấn. Hơn nửa số chị tôi quen bị chúng tra tấn đến triệt đường sinh sản trong đó có người chưa kịp lấy chồng! Các chị đang an dưỡng chữa bệnh trước khi về đơn vị cũ hay quê nhà theo chủ trương của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Về khuya sự quyến luyến càng tăng lên. Các chị tặng bọn lính chúng tôi những bài hát bài thơ tự viết ở trong tù chép trên các đoạn giấy vệ sinh là thứ giấy duy nhất được dùng tự do trong nhà tù. Các chị còn tặng một chiếc nhẫn sáng bóng mài từ mảnh ca nhôm vỡ trong tù. Trong tiểu đội cho tôi là người biết thơ phú văn chương nên trao cho tôi giữ những tặng vật đó. 36 năm đi qua cuộc chiến tranh đi qua cuộc sống xô bồ của kinh tế thị trường khốc liệt hôm nay những kỷ vật trên đang ở trước mặt tôi như người dẫn đường cho tôi có được những trang hồi ức này.

          Cuối tháng tư năm bảy ba chúng tôi chia tay các chị xuôi về Đồng Xoài Phước Vĩnh Gia Nghĩa với những trận đánh "chốt chặn" nổi tiếng ác liệt trên đường 13 14 miền Đông Nam Bộ. Tháng 2.1974 tại rừng Đồng Xoài Phước Vĩnh bên bờ sông Bé tôi nhận được thư chị Ngân từ Lộc Ninh gửi về theo một đoàn hậu cần Sư đoàn tôi đi họp "Miền" về. Theo đường dây nội bộ này Đảm tôi Trung Dũng có trao đổi thư từ với các chị đồng hương Quảng Trị ở Lộc Ninh vài ba lá sau đó chúng tôi về vùng sâu nên mất hẳn liên lạc. Giữa năm 1976 sau ngày giải phóng miền Nam trên đường từ Sài Gòn ra Hà Nội tôi ghé thăm nhà ở Lệ Thủy Quảng Bình. Mạ tôi cho hay rằng đầu năm bảy lăm có chị tên Ngân từ miền Nam ra có tìm thăm gia đình tôi. Tôi rất xúc động và thầm cám ơn cuộc sống và "tiếng" nói Quảng Trị thân thương.

          Trong sổ tay tôi vẫn giữ bút tích những dòng lưu niệm của các chị ở rừng cao su Lộc Ninh năm ấy với địa chỉ quê quán và lời hẹn mời "ngày thống nhất ghé chơi nhà". Chị Hoàng Kim Ngân Ba Lòng- bây giờ chị đang ở khu chung cư Đống Đa thành phố Huế. Chị Ngân lấy chồng nhưng không  thể sinh con vì bị địch tra tấn quá  nhiều. Anh chị  xin một đứa con nuôi. Cháu bây giờ đã tốt nghiệp đại học...Rồi chị Lê Thị Phát (Lựu) Lê Thị Thành ở Triệu Phong chị Hồng (Tịnh) Hoa ở Hải Lăng Hương ở Phong Điền (Thừa Thiên Huế) - tôi đang đi tìm và mong gặp các chị để biết những gì đang đến với các chị hôm nay hạnh phúc hay bất hạnh. Gặp để báo tin về những đứa em kết nghĩa năm đó bây giờ  ra sao...

                                     VĨ THANH

Sau một tuần nghỉ ở Lộc Ninh ngày 30-4-1973 chúng tôi được phân về các đơn vị chiến đấu. Không hiểu  họ phân công thế nào mà cả tiểu đội tôi 10 người thì 9 người về Trung đoàn độc lập 205. Chỉ một mình tôi về Sư đoàn 7. Thế là  chia tay nhau nước mắt ngậm ngùi trước khi bước vào cuộc tử sinh  với giặc. Bạn bè thương cho tôi "cô đơn" một mình khi về  đơn vị mới. Chia tay tôi ôm lấy từng đứa bạn thân nước mắt dàn giụa. Sau ngày Giải phóng miền Nam 1975 đếm lại tiểu đội chúng vượt  Trường Sơn năm ấy hai người bạn thân yêu đã nằm lại chiến trường còn tất cả đã đi đến  trận đánh cuối cùng của cuộc kháng chiến : Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Gài Gòn !Võ Văn Đảm hai tháng sau khi chia tay ở Lộc Ninh đã tham gia trận đánh chống địch lấn chiếm ở Chi khu quân sự Kiến Đức tỉnh Gia Nghĩa. Trung đội trưởng trung đội phó hy sinh. Đảm  lúc đó là tiểu đội trưởng đã đứng lên chỉ huy trung đội tiếp tục đánh địch. Và anh đã hy sinh...Đảm không chờ được ngày chiến thắng đi ra Bắc theo đường Quốc lộ 1A qua cầu Hiền Lương để về Vĩnh Giang thăm mạ nữa rồi ! Đến nay chị Quỳnh vợ Đảm vẫn chưa tìm thấy mộ chồng. Thằng Thước bây giờ là một lãnh đạo một vụ ở Văn phòng Chính phủ ở  phía Nam đang tìm cách liên hệ với các địa phương để tim mộ Đảm mà chưa thấy. Còn thằng Trung em út tiểu đội chiến đấu cho đến ngày  29 tháng 4 năm 1975 trong đội hình Trung đoàn 205 tấn công vào Sài Gòn theo hướng miền Tây lên. Đến Bến Lức Long An sát cửa ngõ Sài Gòn một quả đạn 105 ly của địch bắn chặn đạn không nổ nhưng rơi trúng đầu nó. Thế là đứa em của tôi chỉ một ngày nữa thôi mà không được hưởng ngày toàn thắng !  36 năm nay thỉnh thoảng tôi lại mở ra đọc lại những dòng lưu bút trong cuốn sổ nhật ký mỏng của mình khi chia tay . Đảm  viết:" Minh Khôi ơi xa rồi! Nỗi đau lớn. Chúng ta đang bị vết thương lòng...";  Trung viết với nét chữ rất đẹp :" Anh Khôi ơi số phận không cản trở được niềm vui..." . Đó là những kỷ vật của tâm linh ...

Viết lại những dòng hồi ức 100 ngày vượt Trường Sơn trong tôi hiện lên hình bóng của đồng đội thân yêu của Đảm của Trung của Dũng Thước Các Hậu Hồng...  của các chị "Đồng hương Quảng Trị" gặp ở Lộc Ninh. Tôi mang trong tim như một món nợ không thể trả đi suốt cuộc đời thơ khó nhọc...

                                                                     Huế tháng Tư- 2009

                                                                              NM

truong tham my

It is truly a great and helpful piece of information. I am satisfied that you shared this useful information with us. Please keep us informed like this. Thanks for sharing.

It is truly a great and helpful piece of information. I am satisfied that you shared this useful information with us. Please keep us informed like this. Thanks for sharing.

Ngô Minh

Gửi Huy Tập

Cầu mong cho chúgn nó không đòi thêm gì nữa. Khổ lắm. Ngày xưa sốgn đẹp thế. Bây giờ thì tất cả đã mất rồi...

Ngô Minh

Gửi DAophantoan

Cám ơn đã chia sẻ. Ngày xưa đẹp thế. Bây giờ thì buồn lắm.

Huy Tập

Gửi Ngô Minh

Xúc động trào xúc động dâng trào dâng trào! ngày đó đói đẹp khổ đẹp...
Ngoài đó đã nhận được xác nhận của Ngô Minh làm gíp Huy Tập nhưng chưa thấy họ trae lời! HÀNH QUÂN XA CHẮC SẼ NHIỀU GIAN KHỔ .

daophantoan

Những Nhân chứng sống một thời
Máu xương đổ xuống rạng ngời Non sông
Anh- Chính Anh đang là pho sử sống động cho thế hệ cháu con! Kính chúc Anh mạnh khỏe vui nhiều!

Ngô Minh

Chào Tôn Nữ Ngọc Hoa

Cám ơn Hoa đã ghé thăm. Chủ đề là kể chuyện Trường Sơn mà. Chuyện đánh nhau những năm tháng sau đó sẽ viết trong hồi ký. Chúc khoẻ.

Tôn Nữ Ngọc Hoa

Từ Buôn Ma Thuột

Anh Ngô Minh ơi. Sao kết thúc ngang đây thôi? Kể thêm những ngày ở sư đoàn 7 nhất là cảm xúc khi vào đến của ngỏ Sài Gòn nữa chứ.
NH chúc cựu chiến binh Minh Khôi luôn yêu đời yêu người nhé.
TNNH

Ngô Minh

Gưeỉ Mai Thanh Tịnh

Cám ơn đã chia sẻ

Mai Thanh Tịnh

Hồi ức của anh thật kỷ anh ạ! Đúng là một thời khó quên
Anh năm 1972 thấy trẻ và đẹp trai hơn chừ nhiều hè! hi hi!!!
Anh vui vẻ anh nhé!