HỘI THẢO TRƯỜNG CA "ĐỒNG HỚI KHÚC HUYỀN TƯỞNG"

 

     HỘI THẢO TRƯỜNG CA "ĐỒNG HỚI KHÚC HUYỀN TƯỞNG"

        Ngô Minh doc tham luan
Đoàn nhà văn Huế trong chương trình "Hành phương Bắc" có  kế hoạch di Nghệ An. Nhưng khi nghe  nhà thơ Bình An chủ tịch Hội VHNT Quảng Bình điện thoại sáng ngày 11/5 sẽ Hội thảo  trường ca "Đồng Hới khúc huyền tưởng" của nhà thơ Thái Hải. Thế là chúng tôi phóng xe một mạch từ Thanh Hoá về DDồng Hới vào tối 10/5 để kịp mai dự ngày  Hội thảo. Hội thảo do UNMD Thành phố Đồng Hới và Hội  VHNT Quảng Bình  phối hợp tổ chức. Đoàn nhà văn Việt Nam tại Huế gồm có các nhà văn lão làng Hồng Nhu Nguyễn Khắc Phê Tô Nhuận Vỹ nhà văn  viết truyện ngắn nổi tiếng Trần Thuỳ Mai các nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Ngô Minh Mai Văn Hoan Vĩnh Nguyên. Ngô Minh đề nghị Ban tổ chức giới thiệu từng nhà văn để cho cuộc  hội thảo thêm phần ý nghĩa làm sang thêm cho Đồng Hới. Nhưng Ban tổ chức bảo chỉ giới thiệu chung thôi. Ngô Minh chạnh buồn. Vì thế Ngô Minh khi được mời lên đọc bài tham luận về Trường ca đã dành ít phút để giới thiệu Đoàn nhà văn Việt nam ở Huế đã  về tham dự hội thảo để chúc mừng Thái Hải và để cám ơn UBND Thành phố Đồng Hới đã tổ chức cuộc hội thảo này. Có hon 10 tham luãn gui den hoi  thao 7 tham luan duoc doc. Sau đây là bài tham luận viết vội của Ngô Minh.

 

                      THÁI HẢI VÀ CUỘC KIẾM TÌM 

                                   HỒN VÍA PHỐ QUÊ

      Ngô Minh 

         
         Chân dung của một đô thị cũng giống như một con người đều có phần  nổi và phần chìm. Phần nổi hiển hiện thì ai cũng thấy đó là phố nhà cao tầng thấp tầng là hạ tầng đường sá là cây xanh hoa cảnh công viên khách sạn nhà hàng... Còn phần chìm là cái phông văn hoá ngàn năm trầm tích kết tinh thành phong tục nếp sống tình cảm văn hoá lễ hội văn hoá ẩm thực...của con người không phải ai cũng nhận ra được. Phần  nổi của chân dung đô thị  thường bị thay đổi trong biến thiên lịch sử do chiến tranh bão lụt. Nhưng phần chìm thì không  bao giờ thay đổi. Đó là cái còn lại làm nên hơi thở của mỗi đô thị lặn sâu  vào máu thịt từng người . Thành phố Đồng Hới cũng vậy . Các nhà khảo cổ khai quật Di chỉ Bàu Tró cho thấy người Việt đã đến định cư ở đây 5000 năm trước. Lịch sử Đồng Hới có thể xem bắt đầu từ thời kỳ Lý Thường Kiệt đưa quân vào dẹp loạn Chiêm Thành và xây dựng nơi đây thành trấn biên cho Đại Việt. Lịch sử đô thị Đồng Hới được tính từ thời kỳ chúa Nguyễn Hoàng vượt dãy Hoành Sơn . Các đời Chúa Nguyễn sau này đặc biệt là chúa Sải Nguyễn Phúc Nguyên đã cho xây dựng Thành Đồng Hới để làm trấn biên phía bắc Đàng Trong chống lại các cuộc tấn công của Chúa Trịnh. Đào Duy Từ - một nhà chính trị quân sự tài năng của chúa Chúa Nguyễn đã chỉ đạo xây dựng Thành Đồng Hới. Cùng với việc xây dựng thành là việc phát triển thị (chợ búa dân cư) sinh sống trong và xung quanh khu vực thành. Ngày nay dấu vết còn lại của Thành Đồng Hới và Quảng Bình Quan vẫn còn hiện diện. Thời chống Pháp Đồng Hới đã phải "tiêu thổ kháng chiến". Thời chống Mỹ gần 8 năm ròng máy bay Mỹ đã huỷ diệt Đồng Hới thành một đống gạch vụn. Chứng  tích của sự tàn phá đó còn sót lại là tháp chuông Nhà thờ Tam Toà và những nấm mồ. Tháng 7-1989 chia lại tỉnh đến nây Đồng Hới  hồi sinh mạnh mẽ để có vóc dáng một đô thị cấp 3- Thành phố Đồng Hới bên biển Đông và bên sông Nhật Lệ thơ mộng như hôm nay.

          Đồng Hới nổi tiếng thế giới trong lịch sử chiến tranh. Nhưng cũng có một Đồng Hới thâm trầm cốt cách... Đó là phần chìm văn hoá hay nói cách khác là Hồn vía Đồng Hới tạo nên sức sống trường tồn của  hàng ngàn thế hệ con người nơi đây. Và thật may mắn chúng ta đã gặp được một phần  chân dung chìm đó của Đồng Hới trong trường ca Đồng Hới - Khúc huyền tưởng  của Thái Hải(*). Lâu nay trường ca viết về các địa danh thường thiên về mô tả các sự kiện lịch sử các trận đánh những chiến công mà quên đi chiều sâu nội tâm quên đi những  mạch vỉa than đá tạo nên ngọn lửa  tình yêu suốt ngàn đời xứ sở. Những trường ca đó  chỉ có giá trị tư liệu ít có  giá trị nghệ thuật.
      
Tôi đã đọc nhiều lần trường ca này của THái Hải và lần nào cũng  tìm thấy trong từng câu thơ nồng nàn nhịp đập của con tim tác giả. Năm chương trường ca : Dòng sông tuổi thơ- Thời chưa xa- Âm vang cùng sóng biển - Lặn sâu vào đất - Chảy suốt cuộc đời đều thiên về cảm   không sa vào tự sự kể lể. Mỗi chương một là một mảng màu riêng khắc hoạ nên chân dung Đồng Hới : ẩn hiện quá khứ  và hiện tại dằn vặt suy tư và thao thiết nhớ thương gió nồm và cát trắng sông và núi  mùi vị và  âm thanh mất và được... cứ dồn nén xoáy cuộn cuốn hút người đọc.  Thái Hải đã khai thác rất thành công những chi tiết đời thường rất thường nhưng rất đặc trưng để diễn tả tâm trạng  vui buồn của đời  mình với  Đồng Hới. Biển bào mòn quất sóng phía hoàng hôn / Vỏ ngao vỏ hến vùi trong cát/ Tầng tầng nên động nên gò...; Người bên  xương rồng chắn sóng/ Sinh sôi cùng cá tôm / Cùng câu hát ru / Trăng treo / Cửa bể. Rồi  Đất làng dậy  mùi duyên hải.../Mảnh vá cánh  buồm ngực trần cuồn cuộn/ Chèo thuyền chém gió / Dìu cá ông  gặp nạn vào bờ/ Lập miếu cầu trời yên biển  lặng... Tác giả đã mở đầu chương Dòng sông tuổi thơ  với những hình ảnh thơ gần gũi mà  đầy tính biểu trưng ấy đọc cảm thấy  mùi vị Đồng Hới ùa vào mình thân thương cật  ruột lắm. Cá Mú cá Choè cá Chim cá Dở / Nước mắm cá Cơm ngọt lịm chưng vàng.

              Tác giả gọi sông Nhật Lệ giọt mắt ngày dài thảm lụa.Nhật Lệ chính là con sông đã tạo nên mạch sống Đồng Hới là giọt mắt khóc cười đùm bọc chia sẻ với phố thị  mỗi ngày. Còn bản thân sông như con người Đáy sâu ôm buồn đau lặng lẽ. Bên sông ấy Nhà ken nhà tựa lưng đấu cật / Tường san hô tường  gạch nép vào nhau. Ngày hội trên sông Đèn hoa đăng kín sông kín bến nhưng  tác giả lại nhận ra những ngọn nến như linh hồn vật vờ nhỏ  giọt thâu đêm. Đó là xúc cảm bật lên từ chiều sâu ký ức đau buồn. Không  xuất phát từ chiều sâu ký ức đó thì  trường ca sẽ dễ nhạt. Đọc trường ca củaThái Hải tôi mới biết  ngày xưa Đồng Hới có những không gian sống có rất  nhiều âm hưởng  tâm linh : Tiếng dạ thưa lẫn tiếng chuông chùa... Con gà đất le te ngày giáp tết...Bây giờ thì chùa không còn chỉ còn  tiếng chuống chùa ngân trong tiềm thức. Thật tiếc.

          Đồng Hới là phố biển. Vì thế trong trường ca của Thái Hải có hẳn một phần thơ dài mang tên Phố biển. Làng mới đến Phố mới đến Ngoại ô đó  là con đường sinh thành là từng cung bậc lớn  rộng của một thành phố như Đồng Hới. Phố biển nên Chén nước  mắm chắt từ mắt biển / Cay nồng hương vị ớt xanh. Phố biển ngàn năm có chiều sâu tâm linh thăm thẳm. Tôi rất thích đoạn thơ này:

                           Gốc đa phồn thực thời gian

                           Ông từ quét lá

                           Chòm râu như mái đình cong

                           Chiếc mũ lợp ngói vảy rồng

                           Khói trầm hương tần ngần quanh miếu mạo

                           Rêu phong dằng dặc phù vân kiếp người

                           ... Nết đất  nết người lặn trong đôi hổ đá

                             Trong sơn son thếp vàng

                             Dưới ngói vảy rồng đình làng Đồng Hải

          Không yêu hết lòng  thành phố của mình không có chiều sâu hoá không viết được những câu thơ gan ruột như thế. Những người hôm nay đang vô cảm trước cuộc sống tâm linh của ông cha xưa   nên  nhớ rằng chính những chi tiết  cuộc đời như  gốc đa ông từ mái đình cong khói hương trầm. nết đất nết người lặn trong hổ đá... ấy đã  tạo nên  máu thịt và sức sống Đồng Hới truyền đời chứ không phải những  đạo lý đức tin chung chung .

           Hồn vía Đồng Hới cũng  giữ gìn và tái hiện trong từng giọt cà phê / chậm chạp rơi trong vóc dáng người đàn bà ngồi đan  bên ô của trong lốc cốc tiếng rao người bán phở trong mùi  ngũ vị hương / Táo-ô mai/ cam thảo trong  vị khoai lang bắp nếp hồng leo hay những đĩa bánh bèo cá bống kho rim .v.v.. Không có những mùi vị màu sắc thân quen hàng ngày đó thì sẽ không có  chân dung phố.

                 Viết về Đồng Hới trong chiến tranh trường ca Đồng Hơi- Khúc huyền tưởng cũng không thiên về ca ngợi chiến công mà đào sâu  vào  những nỗi đau mất mát mà Đồng Hới phải gồng mình gánh chịu: Bàu Tró âm thầm muôn lớp sóng sâu...Hào giao thông loang lổ phố phường...Chợ không ai mặc cả / Trẻ con quên tiếng cười... Tất cả sơ tán / Để lại phố vắng hơi người...Qua đó càng hiểu sâu cái giá của  chiến công. 7000 dân và 40 cơ quan đơn vị sơ tán khỏi  phố biển lên Cộn làm phố mới. Con trai phố biển quen học hành quen  chèo thuyền đánh cá bây giờ lên Phố núi cũng đã  sớm nhập vai : Ong vang cắn vàng con mắt / Dạy tôi  hun khói đề phòng / Bụng đói lạc  giữa  rừng  giá / Dạy tôi biết tìm chọn quả. Câu  thơ buồn day dứt mà đầy  chất can trường nói lên phẩm chất vưọt lên hoàn cảnh của người Đồng Hới . Còn những người ở lại  giữ phố biển trong bom đạn ác liệt vẫn sống rất người rất tình :

                                Đêm

                                Những ngón tay tòm nháu trong bóng tối

                                Hơi thở vội như lần đầu vụng trộm

                                Sâu thẳm nồng nàn    

         Câu  chuyện Đồng Hới là câu chuyện Thao thức từng đêm của mỗi  người trước sự sống cái chết. Cuộc chiến chưa tàn phố đã lụi tan / Cây đa chùa Ông  buồn như quên tuổi...Để linh hồn  oan đêm về trở lại / Mò mẫm mâm mê gốc rễ đa làng. Những câu thơ  thật  hay thật  xúc cảm.  Thái Hải rất tinh tế  trong  việc đưa từng chi tiết  cuộc đời rất đắt vào Trường ca để tạo ra một chân dung Đồng Hới xoáy sâu vào tâm khảm :

                                  Cuốn gia phả nhà ai ngửa mặt lên trời

                                  Cháy xém bỏ quên bên góc đình Đồng Hải

                                  Biết bao giưò người thâm tìm gặp lại

                                   Con chữ rồng con chữ phượng tổ tiên

          Tuổi  17 thanh niên Đồng Hới lên đường nhập vào đoàn quân cứu nước. Chàng trai  xóm Động Đình dân Đồng Hới gộc tên là Thái Hải cũng trải  6 năm chiến trận  đi khắp chiến trường Bình -Trị -Thiên Tây Nguyên . Có thời gian Thái Hải là lính 12 ly7 bắn máy bay Mỹ bảo vệ  Đồng Hới quê hương Những năm tháng  lính ấy đã cho anh thấu hiểu  từng nỗi đau của phố. Thực tế chiến trường  cộng với  cái chất sắc sảo chân thật của người Đồng Hới trong máu thịt Thái Hải đã chắt lọc được những chi tiết lính rất điển hình và xúc động của đồng đội ở chiến trường: Dòng chữ khắc lên vỏ bi đông Mẹ ơi con khát / Khắc lên  vỏ cây đại ngàn ngày...tháng...năm ...sinh... Riêng nấm mồ lấp vội chẳng mang tên; hay Không kịp ghi danh lên mộ chí đồng hương / Địa chỉ giấu trong trái tim người lính. Vì thế mà Tôi hiểu vì sao mẹ khóc / Vì sao bạn chẳng trưỏ về / Vì sao môi em mim  chặt...Trong các bài thơ lẻ Thái Hải viết rất nhiều về  nỗi nhớ  đồng  đội đã ngả xuống. Hình như đồng đội là nỗi nhớ nỗi đau thường trực trong lòng Thái Hải cứ động hờ là ngân lên : : Một lứa bên sông mươi ông đại tá/ Dăm bảy chàng tiến sĩ  giáo sư/ Hàng trăm người  hư chân hỏng mắt/ Đồng đội  hàng ngàn anh lặng lẽ không à ơi thật giả...Với anh họ còn mãi sống . Anh uống rươụ  nâng ly với đồng đội bên cồn cát Bảo Ninh. Ở trường ca này Thái Hải dấn thêm một bước- từ  mộ đồng đội  nói với người hôm nay :  

                                 Di sản của bạn là nấm mồ

                                 Thanh thản ngủ sau những ngày trận mạc

                                  Là nắm xương đêm nằm nghe lá đổ

                                  Cho người đang sống hiểu nhục vinh

         Trường ca của Thái Hải thật ra là một cuộc hành trình đi tìm Hồn vía phố thị Đồng Hới : Vườn nhà ai hoa hồng thắm đỏ / Ướp hồn vía  phố long lanh... /Sức sống âm thầm trong đất / Không rõ dạng rõ hành hồn vía đó mà... Điệu hò đưa linh trầm buồn nức nở / Chèo cạn múa bong thăm thẳm bóng người về...Cuộc tìm kiếm đó chính là sự chiêm cảm trước những nét văn hoá  nguồn cội đang  bị mất dần.

         Chắt chiu tìm kiếm bao  chi tiết  tâm linh chìm lấp để rồi se thắt lòng  khi nhìn cảnh  sống bây giờ :

                                   Cậu ấm cô chiêu môi hồng má thắm

                                   Điệu đàng vác mặt lên trời

                                   Quên cứt trâu mái rạ cây rơm

                                   Nơi đẻ ra hạt lúa

                                   Đẻ ra tổ tiên

                                   Đẻ  ra mình

Nên điệp khúc Ly rượu cụng vào đêm / Ta chạm hồn vía phố như là một sự dằn vặt một sự  an ủi trước cảnh tượng người -không-còn-của phố -xưa. Buồn lắm nhưng đọc Thái Hải  cũng tin yêu lắm.

           Chương V- Chảy suốt cuộc đời là sự suy tư chan chứa về  thành phố thân yêu qua thời gian đau thương giằng xé. Lời nói thật khó nghe/ Người tin người chẳng dễ nhưng tình yêu  buộc tác  giả phải  nói thật phải độc thoại  với chính mình để là người không bạc bẽo với tiền nhân không bạc bẽo với phố xưa nền cũ. Vì Muôn vàn biến thiên cũng chỉ dành ủ mật / Cho con cháu  giống nòi. Vì Đời là có có không không / Biết  phù du cứ đèo bong lạ chưa.

          Đời ta là hữu hạn Đồng Hới  mới là trường tồn. Vì thế cái  nền móng văn hoá Đồng Hới  phải được tôn vinh vun bồi để phố mãi là phố biển thân yêu. Ngàn năm sau phố vẫn không già / Đồng Hới nhịp sống ngân rung lồng ngực trẻ.Kết thúc trường ca không là một lời  xưng tụng khẩu  hiệu mà là một niệm khúc một  tiếng vọng khôn cùng xoáy vào lòng người:

                                        Xin lạy đất

                                         Lạy trời

                                         Lạy phố

                                         Lạy bốn phương- tám hướng- lạy người

                                         Người đang sống và người đã khuất

                                          Lạy những mái nhà như măng mọc bên sông...

          Cám ơn Thái Hải đã cho ta một  phác thảo chân dung Đồng Hới ở  góc độ  tâm linh hồn vía để ta càng yêu Đồng Hới càng sống hết lòng vì Đồng Hới hơn.

                                                                             --------------

(*): Đồng Hới- Khúc huyền tưởng NXB Hội Nhà văn 2008

Ngô Minh

Gửi Văn Công Hùng

Cám ơn đã đọc. Đó là chỉ địt mà cậu đánh máy sai.

Văn Công Hùng

Sao địc kỹ thế.
---------------
Cương quyết không phải là do... cậu đánh máy rồi.

Ngô Minh

Gửi Nguyên Hùng

Sao địc kỹ thế. Đánh máy lộn. Cám ơn Nguyên Hùng đã phát hiện

nguyenhung

Anh Ngô Minh

(*): Đồng Hới- Khúc huyền tưởng NXB Hội Nhà văn 1908
_________
Thơ xuất bản từ hơn 100 năm trước mà bây giờ mới giới thiệu sao anh. NXB Hội Nhà Văn có thâm niên đáng nể quá anh nhỉ.