“ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM QUA CỬU ĐỈNH HUẾ” CUỐN SÁCH CÔNG PHU VÀ CUỐN HÚT

alt

“ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM QUA CỬU ĐỈNH HUẾ”      

CUỐN SÁCH CÔNG PHU VÀ CUỐN HÚT

                                                              Ngô Minh

  Nhà xuất bản Tri thức vừa  ấn hành cuốn sách quý :“ Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế” của nhà văn  Dương Phước Thu. Cuốn sách cuốn hút. Tôi đọc một đêm một mạch hơn 300 trang sách rất hưng phấn. Có lẽ bởi lâu nay đã có nhiều bài viết về Cửu Đỉnh nhưng đều mang tính giới thiệu sơ lược không  sâu sắc. Sách :“ Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế” biên khảo lý giải rất chi tiết rất sâu và cảm động từng chữ từng hình ảnh khắc trên Cửu Đỉnh. Cửu Đỉnh- báu vật bằng đồng vô giá “một bộ Đại Nam nhất thống chí bằng hình ảnh vô cùng độc đáo được đúc khắc trên chín đỉnh đồng đồ sộ đầu tiên của Việt Nam một Tượng đài văn hóa Việt nên phải có sự biên khảo cẩn thận như thế là xác đáng. Nhà văn Dương Phước Thu viết sách này “với tất cả công tâm lẫn công phu….đã đối chiếu từ các nguồn sử liệu với thực tế diễn biến theo dòng lịch sử  và cả trong thực tiễn đời sống tại mỗi địa phương có liên quan đến Cửu Đỉnh để đính chính những nhầm lẫn những sai sót trước đây ; và đã đưa ra được một cách nhìn mới có chiều sâu hơn  . Tất cả  nhằm làm sáng tỏ  thêm những giá trị minh triết được cổ nhân thể hiện bằng đường nét nghệ thuật ẩn dụ cao siêu chuyển hóa tinh tế qua chữ nghĩa hình ảnh hình tượng trên thân Cửu Đỉnh.( Lời giới thiệu của KTS Phùng Phu).

 

          Cuốn sách được sắp xếp các phần chương từ khái quát đến cụ thể làm cho người đọc hiểu sâu hơn minh triết của người xưa.  Đầu tiên là phần tổng luận giới thiệu quan niệm về Đỉnh Cửu đỉnh và Quẻ đỉnh theo quan niệm Số học và Dịch học Đông Phương và lịch sử đúc đỉnh của các triều đại xưa ở Trung Quốc và Việt Nam quá trình đúc Cửu đỉnh đỉnh dưới thời vua Minh Mạng . Tại sao  lại là cửu đỉnh ? Số chín ( 9) là con số trời . Số cực hạn của trời đất bắt đầu ở 9 . “Số 1 là Trời số 2 là Đất số 3 là Người vậy  3 nhân 3 thành 9- đó là con số linh công năng tượng trưng của nó là vô hạn”. Theo Kinh Dịch “quẻ Đỉnh có cái nghĩa rất tốt. Quẻ đỉnh do bởi  hai quẻ đơn là quỷ Ly và quẻ Tốn  ghép thành. Mà tự quẻ Ly đã có đức thông minh sáng suốt; quẻ Tốn có đức vui thuận …Vậy quẻ Đỉnh có đủ đức sáng suốt vui thuận đắc trung  cương nhu ứng viện nhau để làm việc đời thì có việc gì mà không hanh thông “. Luận về Đỉnh tác giả viết :”Đỉnh tức cái vạc (dùng để nấu ăn) . Từ thuở nguyên xưa lúc mới hình thành các vạc với ý niệm của  của nghĩa tương trưng về lễ khí thần thánh nên cũng gọi là cái đỉnh. Về sau người ta phân biệt vạc là vạc đỉnh là đỉnh . Đỉnh là một thứ trọng khí được đúc bằng kim loại có hai quai (tai) và ba chân cấu trúc hình dạng và chức năng tôn kính tượng trưng cho quyền lực thống trị của nhà nước quân chủ. Vua Minh Mạng nới :”Đỉnh là để tỏ rõ ra ngôi vị đã đúng danh mệnh đã tự tại. Thực là đồ quý ở nhà Tôn miếu…”Đó là để tỏ mong rằng muôn năm bền vững dõi truyền đời sau” ” Việc đúc đỉnh cố nhiên là ở nhân công nhưng  quý trọng mà làm được không phải không có thần giúp sức” ( Đại Nam thực lục chính biên). Tác giả  dành riêng  Chương 2 ( Phần thứ nhất) để  trình bày quá trình đúc Cửu Đỉnh để nói về nghệ thuật đúc đồng điêu luyện tinh xảo của  các thợ đúc Huế thế kỷ XIX. Để đúc nên những vật phẩm bằng đồng theo mẫu tạo quan trọng nhất là thiết kế vẽ mẫu rồi làm phôi khuôn;  Người thợ phải làm ra những chiếc khuôn theo kích cỡ mẫu mã ký tự hoa lá chim muông cảnh vật…để khi đúc ra các mẫu tạo ấy sẽ được kết dính với nhau một cách tự nhiên giống như tự than nó mọc ra vậy. Phức tạp tiếp theo là với cách làm thủ công  làm sao để rót những mẻ đúc chính xác với những chiếc đỉnh cao lớn như vậy. Riêng việc đót lò để đức khắc cảnh làm nguội  các hình tượng ẩn dụ trên đỉnh  phải hơn một năm mới hoàn thành. Tổng khối lượng nguyên vật liệu (đồng kẽm thiệc) để đúc 9 đỉnh là  22.088 kg khi đúc xong tổng lượng còn lại của 9 đỉnh  xấp xỉ 20.310 kg tỷ lệ hao hụt là  1.778 kg ( 8 06 %) . Đọc phần  này ta càng khấm phục trình độ đúc đồng  rất cao của những người thời đúc đồng Việt Nam họ tính toán rất chi li và  chuẩn xác.

 

          Phần hấp dẫn nhất trong sách: “Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế” là phần giới thiệu nội dung và ý nghĩa của các hình khắc trên Cửu Đỉnh. Mỗi hình đều có  ảnh chụp đặc tả. Trên mỗi đỉnh vua Minh Mạng cho khắc 17 cảnh và 1 họa thư. Họa thư là hai chữ Hán lớn là chũ đỉnh và  chữ tên đỉnh . Họa thư 9 đỉnh là : Cao Đỉnh Nhân Đỉnh Chương đỉnh Anh Đỉnh Nghị đỉnh Thuần Đỉnh Tuyên đỉnh Dụ đỉnh Huyền đỉnh. Mỗi đỉnh có 17 cảnh sông núi mây gió hoa cỏ cây trái.v.v.. đặc trưng cho 3 miền Việt Nam tổng công 153 cảnh ( 1+5+3 = 9). Số 9 là tư tưởng chủ đạo của việc chọn cảnh của vua Minh Mạng . Qua biên khảo nghiên cứu  nhà văn Dương Phước Thu đã có một phát hiện thú vị : Tất cả các loại cảnh vật đều được  chọn lọc và sắp xếp theo số 9:    9 vì tinh tú và thiên nhiên trong vũ trụ  là: Mặt trời mặt trăng gió sấm mây. Mưa các sao Ngũ Tinh Bắc Đẩu Nam Đẩu ; 9 Chính ngọn núi lớn : Thiên Tôn Ngự Bình Thương Sơn Hồng Lĩnh Tảo Viên Núi Duệ Đại Lãnh Hải Vân Đèo Ngang ; 9 sông lớn : Bến Nghé Sông Hương Sông Gianh sông Mã song Lô sông Bạch Đằng Thạch Hãn Sông Lam Sông Hồng; 9 con sông đào và sông khác :Vĩnh Tế Vĩnh Điện Lợi Nông sông Vệ Sông Phổ Lợi sông Thao Cửu An Sông Ngân . Rồi 9 cửa biển cửa quan biển cầu vồng ;  9 con thú lớn bốn chân ;  9 con vật linh;  9 loài chim; 9 loài cây lương thực; 9 loại rau củ; 9 loại hoa; 9 loại cây lấy quả; 9 loại dược liệu quý; 9 loại cây rthân gỗ; 9 loại vũ khí; 9 loài cá ốc côn trùng; 9 loại thuyền xe cờ. Tất cả những số 9 ấy hòa quyện với nhau tạo nên một bức tranh thiên nhiên sông núi đất trời Việt Nam hoành tráng.

 

            Về ý nghĩa và nội dung các hình ảnh khắc trên Cửu Đỉnh sách đã đi sâu nghiên cứu nguồn  gốc và vị trí của  hình ảnh trong sự nghiệp dựng nước của Vương triều Nguyễn và sự thống nhất toàn vẹn cuả quốc gia Đại Việt. Mỗi hình ảnh  2 trang  giới thiệu cô đọng mà đầy đủ để người đọc hiểu thêm tại sao  hình ảnh này được chọn khắc. Nhà văn đã dày công suqwu tầm tài liệu đọc so sánh để đi đến sự minh xác trong từng nhận xét nội dung. Ví dụ trên CAO ĐỈNH đỉnh lớn nhất đặt ở chính giữa tượng cho sự vĩ đại có nhiều hình ảnh  liên quan công cuộc mở cõi của các Chúa Nguyễn như Sông Bến Nghé ( Ngưu Chữ Giang) kênh Vĩnh Tế ( Vĩnh Tế Hà) núi Thiên Tôn . Xin nói  về  Thiên Tôn Sơn ( núi Thiên Tôn) ở phía tây bắc huyện Hà Trung Thanh Hóa. Núi Thiên Tôn còn gọi là núi  Triệu Trường là hòn núi  không lớn nhưng đây là nơi có Gia Miêu ngoại trang là nơi phát tích Vương Triều Nguyễn với  9 chúa  13  vua nguyên quán của dòng họ Nguyễn Phúc có lăng Triệu Tổ Nguyễn Kim và Lăng Đức Bà ( vợ Nguyễn Kim) . Năm Minh Mạng thứ 2 ( 1821) dụ rằng :” Nước nhà ta gây dựng  nghiệp lớn giữ mệnh trời lâu dài. Kính nghĩ lăng Tổ khí thiêng chung đúc chứa chất phúc lành phong thần Núi hiệu là Thiên Tôn đều làm đến thờ để  đáp ơn thần”.  Tác giả còn cho biết núi Thiên Tôn  liền  mạch với  dãy Tam Điệp núi Thần Phù Trạch Lâm Trang Chữ…Năm 1788 vua Quang Trung Nguyễn Huệ từ Phú Xuân  dẫn đại binh ra bắc  đánh đuổi quân xâm lược nhà Thanh  đã cho lập đại bản doanh ở vùng núi thiêng này làm lễ tế cờ. Người am tường binh pháp nói rằng chiến công oai hùng của vua Quang Trung đại phá quân Thanh đã được Sơn Thần ở Thanh Hóa-Tam điệp linh thiêng phù trợ.

           Hãy đọc và ngẫm  “ Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế” sẽ tìm được ở đây  nhiều  chuyện thú vị mà mình  chưa từng biết.

 

---------

Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế” Dương Phước Thu

NXB Thi Thức 1-2011