“NGƯỜI TÌNH” TRỊNH CÔNG SƠN

By NGÔ MINH

alt
Trịnh Công Sơn- Ngô Vũ Dao Ánh        

  alt 

               

“NGƯỜI TÌNH” TRỊNH CÔNG SƠN

                                                                      Ngô Minh

         1.  10 năm Trịnh Công Sơn  rời xa “cõi tạm” âm nhạc của Trịnh vẫn  vang lên ở mọi ngõ ngách trong tâm thức Việt đời sống Việt. Trong hơn 600 ca khúc Trịnh Công Sơn gửi lại ngoài  âm nhạc cách mạng nhạc phản chiến còn lại  đa phần là tình ca . Có thể nói Trịnh Công sơn là người tình của cuộc đời của con người của thiên nhiên muôn thuở : Tàn đông con nước kéo lên / Chút tình mới chớm đã viên thành...( Đoá hoa vô thường) ; hay Chiều nay còn mưa sao em không lại  / Nhỡ mai trong cơn đau vùi  / Làm sao có nhau hằn lên nỗi đau  ( Diễm xưa).v.v.. Vậy NGƯỜI TÌNH  của Trịnh Công Sơn là ai ? Đó là câu hỏi của bạn của tôi mỗi khi nghĩ về Trịnh …

   Tôi là người sinh sau gặp anh Sơn khi Huế giải phóng .Gần gũi mấy năm tôi không nghe anh kể chuyện nhiều về  những mối tình của mình . Phong phanh bạn bè kể rằng anh Sơn đã một lần ’cưới vợ’ đầu những năm 60 của thế kỷ trước. “Ngươì tình” Trịnh Công Sơn đó là một người đẹp nổi tiếng  ở Sài Gòn có tên là Th. Hoàng Phủ Ngọc Tường kể : Cô ấy là một người Hoa. Đám cưới sang trọng . Sau đám cưới phòng “tân hôn” của cô dâu chú rể vẫn ở khách sạn. Bạn bè cũng nghỉ ở đó mai mới về. Đêm mọi người  cứ tưởng Trịnh sẽ có một đêm “động phòng” hạnh phúc nhưng trong khuya bỗng Trịnh Công Sơn chạy sang  xin nằm ngủ với bạn… Không hiểu  thông tin ấy chính xác tới mức nào. Theo nhà văn Bửu Ý người bạn rất thân của Trịnh chính xác thì Trịnh Công Sơn đã hai lần tính chuyện “cưới vợ”. Cả hai lần đều sau 1975. Lần thứ nhất là năm 1983 Trịnh chuẩn bị cưới   người phụ nữ có tên là C.N.N sống ở Paris. Trịnh đã gửi thư cho Bửu Ý ngày 30.7.1983  rằng  “Moi sẽ làm đám cưới trong tháng tới. Cố gắng vào thì vui hơn” nhưng dự định cưới vợ lần ấy của Trịnh đã không thành . Năm 1990 Trịnh Công Sơn lại tổ chức cưới vợ người phụ nữ này là V.A lễ cưới đã chuẩn bị xong cô dâu đã may áo cưới nhưng đến phút cuối không hiểu tại sao anh lại khước từ hạnh phúc. Ngoài những “người đẹp” trên có một cô gái Nhật Bản tên là  Michiko yêu Trịnh tha thiết và Trịnh cũng yêu. Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường trong  cuốn bút ký “Trịnh Công Sơn- Cây đàn lia của Hoàng tử bé” ( NXB Trẻ 2005) thì Nhiều thiếu nữ ”fan” của nhạc Trịnh Công Sơn vẫn lui tới với anh hằng ngày tìm thấy ở anh một tình bạn vong niên thật dễ thông cảm vừa là một người tình lãng du của  mọi lứa tuổi. Nhiểu bạn gái trong đó có những người tình cũ của anh đã trở về thăm anh như thăm lại nỗi cô đơn bẩm sinh khi người ta còn trẻ”. Cô gái Nhật Bản Yosshii Michico đã bỏ ra  ba năm học tiếng Việt để  nói chuyện được với Trịnh .Và làm luận văn cao học về nhạc nhạc phản chiến của Trịnh . Trịnh cũng có những năm tháng yêu một ca sĩ Hà Nội và đã viết những bài hát riêng cho ca sĩ này thể hiện . Trịnh Công Sơn thổ lộ:” Phải cảm ơn H.N vì nàng đã làm cho mình không chỉ tồn tại như một kẻ nhắc vở đến từ quá khứ”. Nhưng tất cả cuộc tình đều không đi đến kết quả. Nên  kết cục Trịnh Công Sơn đã đi vào cõi vĩnh hằng một mình như khi mẹ sinh ra !   “Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”…  

                  

           2. Nhưng nếu tính “người tình ”tâm hồn của Trịnh phải kể đến Bích Diễm Khánh Ly.  Sau ca khúc  “Ướt mi” đầu thập niên 60  ở  Huế   Trịnh Công Sơn đã rung động theo hình ảnh một thiếu nữ mảnh mai con của một vị giáo sư dạy Pháp văn: Ngô Vũ Bích Diễm. Hình ảnh này sẽ vương lại mãi trong trái tim ông như một vết thương  thành vết sẹo giữa cuộc đời.  Ca khúc nổi tiếng “Diễm xưa” ra đời một ca khúc đánh dấu đặc biệt trong đời của Trịnh và tồn tại lâu bền

                                        Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ

                                        Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao…

                                                                                ( Diễn Xưa)

        Diễm xưa đã trở thành một hình dung từ chỉ cái đẹp nhạc Trịnh mà không biết bao nhiêu thương nhân Việt đã lấy để đặt tên cho quán của mình.. Hỏi về chuyện Diễn xưa Trịnh Công Sơn trả lời rằng :” Ngày xưa dường như cả thế hệ tôi là vậy yêu một mái tóc một dáng hình một ngày chỉ cần nhìn thấy mặt nhau thấy em qua khung cửa sổ là cả ngày thấy vui”. Trong ca khúc Diễm Xưa có đoạn ca từ bất tử : Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động / Làm sao em biết bia đá không đau / Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng / Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau. Ấy là triết lý cuộc đời triết lý Thiền mà Trịnh Công Sơn đã phát hiện ra  từ khi còn rất trẻ.

         Nhưng phải nói rằng với Trịnh Công Sơn Khánh Ly mới là Người Tình muôn đời. Dường như toàn bộ tình ca Trịnh là viết riêng dành cho giọng hát Khánh Ly . Nói theo cách của Hoàng Phủ Ngọc Tường  thì “với Sơn Khánh Ly luôn luôn là giọng hát Người Tình”.  Sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn Trịnh Công Sơn được bổ lên dạy học ở  Bảo Lộc. Và Trịnh đã gặp Khánh Ly với cái tên Lệ Mai ở phòng trà Tulipe Rouge Đà Lạt. Thế là “nên duyên” . Nhạc Trịnh Công Sơn bắt nguồn từ triết học hiện sinh và tư tưởng Phật học nhưng lại chọn riêng một  NGƯỜI TÌNH để  gửi – đó là Khánh Ly.   Trịnh nghe Khánh Ly hát nhận ra ngay  giọng hát của cô ca sĩ này phù hợp với những bản nhạc tâm thức  của mình . Trịnh Công Sơn kể : “Gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly là một may mắn tình cờ không phải riêng cho tôi mà còn cho cả Khánh Ly…Tôi đã mời Khánh Ly hát và rõ ràng giọng hát của Khánh Ly rất hợp với những bài hát của mình. Từ lúc đó Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa.  Khánh Ly kể lại giai đoạn cơ cực  nhưng đầy hạnh phúc ấy: “Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu cắc bạc nào phải chịu đói chịu khổ chịu nghèo không cần biết đến ngày mai không cần biết tới ai cả mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh…” Những ngày tháng cuối năm 1965 đó bằng cây đàn guitar thùng đơn giản Trịnh Công Sơn và Khánh Ly đã làm say đắm hàng ngàn khán giả mỗi đêm diễn. Hình như họ sinh ra để có nhau vì nhau vì những bản tình ca.

 

           Hồi đó  Trịnh Công Sơn với dáng người mảnh khảnh cặp kính trắng giọng Huế nhỏ nhẹ. Đêm đi hát khuya về kê ghế bố ngủ với bạn bè ở Quán Văn hay Hội Họa sĩ Trẻ. Bên cạnh đó hình ảnh Khánh Ly khi hát đi chân đất – nữ hoàng chân đất của một thời – giọng hát da diết diễn tả nỗi trầm thống vô vọng: “tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”. Hai người đi với nhau tạo nên hình ảnh “đôi lứa” một đôi trai-gái trong tình bạn hồn nhiên trong sáng.   Trong dư luận họ cũng không bị nghi ngờ hay tai tiếng dù người đời có kẻ thắc mắc tò mò... Những tâm hồn phóng khoáng và “hiện đại” thì gạt phăng đi loại “tò mò bệnh hoạn ấy” “ . Và đặc biệt Trịnh Công Sơn là người tăm tiếng mà không tai tiếng. Sơn nói: “Tôi và Khánh Ly chỉ là hai người bạn. Thương nhau vô cùng trên tình bạn” . Khánh Ly viết: “Một mối liên hệ cao hơn đẹp đẽ hơn thánh thiện hơn là những tình cảm đời thường” ; hay :” Trịnh Công Sơn là một nửa đời sống của tôi”…Tình cảm tình yêu thánh thiên  của Trịnh Công Sơn- Khánh Ly thời đó như là một biểu tượng  phá vỡ lề thói Nho giáo trói buộc tình cảm nam nữ. Đó chính là Bá Nha-Tử Kỳ thời hiện đại !

 

            Năm 1975 Khánh Ly rời Việt Nam  sang định cư ở Mỹ còn Trịnh thì cương quyết ở lại Việt Nam vì “Việt Nam là nơi duy nhất tôi có thể sống và sáng tác. Ở nước ngoài tôi không nghe ra tiếng nhạc trong đầu mình tôi không nghe được câu thơ tôi viết ra. Tôi thích đi nước ngoài nhưng nếu ở lâu tôi sẽ khô cạn và chết mất. Hơi ấm của dân tộc Việt Nam giống như nước cần thiết cho hoa vậy”. Đau nỗi đau chia ly Trịnh Công Sơn đã viết ca khúc:” Em còn nhớ hay em đã quên” mà ai nghe hát cũng nghĩ là viết tặng Khánh Ly : Em còn nhớ hay em đã quên  / Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng / Nhớ phố xưa quen biết tên bàn chân

              Năm 1982 Trịnh Công Sơn sang Canada  thăm em và đã gặp Khánh Ly. Sau lần gặp Khánh lý viết :” Có ai trong chúng tôi nghĩ rằng có một ngày nào đó phải thương nhớ nhau từng phút giây. Tuy vậy bằng cách nào đó chúng tôi vẫn ở trong trí tưởng của mọi người như ngày đầu ngồi với nhau vào đời nhau bằng những bản tình ca” ( Hoàng Phủ Ngọc Tường-  Trịnh Công Sơn và cây đàn lia và hoàng tử bé).

 

             Trong  hồi ức về Trịnh Công Sơn “Những kỷ niệm còn mãi  trong tôi” nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ kể rằng trong căn nhà ở Khu chung cư Nguyễn Tường Tộ Huế anh Sơn ngồi tay cầm cây bút xạ mũi viết vẫn còn hướng xuống mặt bàn khuôn mặt anh thảng thốt. Anh viết hai chữ Khánh Ly  đầy cả một tấm giấy gần kín mặt bàn. Có lẽ anh Sơn viết rất lâu nên nó mới nhiều đến thế… Thấy Mỹ Dạ đến anh Sơn cho dạ xem  tập ảnh chụp Trịnh Công Sơn chụp chung với Khánh Ly. Trong đó có bức Khánh Ly ngồi trong lòng Trịnh Công Sơn trên hai bắp đùi. Rồi anh Sơn  hỏi :” Dạ có biết  ai chụp hình cho tụi mình không ?. Dạ lắc đầu. Anh Sơn bảo :” Chồng của Khánh Ly đấy .”. Đúng là NGƯỜI TÌNH muôn đời của Trịnh Công Sơn.

 

             3.Nhưng đó là những người tình  cụ thể dù rất đẹp vẫn là cái hiện hữu. NGƯỜI TÌNH  của Trịnh Công Sơn biểu hiện qua toàn bộ tình ca của anh  ảo diệu hơn nhiều ám ảnh hơn nhiều. Trịnh Công Sơn nói :” Với ca khúc tôi là người tình của thiên nhiên. Tình yêu cho phép những ca khúc ra đời. Nỗi đau và niềm hân hoan làm thành bào thai sinh nở ra âm nhạc”. Anh lại nói :”Tình yêu cứu vãn hư không “. Anh Sơn  nói :” Nỗi ám ảnh lớn nhất đeo đẳng tôi từ thuở còn nhỏ cho tới sau này  vẫn luôn luôn bị ám ảnh là  cái chết… Có lẽ do tôi quá yêu cuốc sống sợ mất nó… Vì thế trong thế giới ca từ Trịnh Công Sơn  có rất nhiều  chữ phai tàn phai chết lá rụng như vôi nhỡ .v.v.. ” Bao nhiêu năm làm kiếp con người/ Để một chiều tóc trắng như vôi…( Cát bụi); Nhỡ mai trong cơn đau vùi / Làm sao có nhau hằn lên nỗi đauôi cát bụi phận này/ vết mực nào xoá bỏ không hay ( Cát bụi); yêu trăm năm và chết một ngày.v.v.. Và NGƯỜI TÌNH CUỘC SỐNG ấy hiện ra trong  âm nhạc Trịnh bao giờ cũng là những cô gái gầy guộc nhỏ như cánh vạc về chốn xa xôi;…  Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay.v.v..Nghĩa là mong manh lắm dễ vỡ lắm. Phải thương yêu hết lòng cưu mang hết lòng mới cứu vớt được. Đồng thời tình yêu  của kiếp người bao giờ cũng là tình phôi pha tình sầu tình phụ tình buồn tình trôi tình hư vôTa thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô ( Rừng xưa đã khép) ; Tuổi buồn em mang đi trong hư vô ngày qua hững hờ ( Tuổi đá buồn).v.v.. Đó là Phúc âm buồn của  cõi người luôn mong được sẻ chia đồng cảm! 

             Đó là những “vị hôn thê chưa cưới”. Còn “người tình” tâm tưởng góp phần làm nên sức lắng đọng bền bỉ của  âm nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ không ai biết hết được ngoài anh ra. Những năm 1962- 1964 để tránh đi  quân dịch Trịnh Công Sơn rời Huế thi vào trường Sư phạm Quy Nhơn và học trong hai năm. Ở thành phố biển xinh đẹp này Trịnh đã sáng tác một loạt bản  tình ca nổi tiếng gây kinh ngạc và sự thán phục cho công chúng. Sau đó nhạc sĩ lên sống ở Bảo Lộc Lâm Đồng vẫn viết  những ca khúc cho một người . 10 năm qua chưa tài liệu nào nói tới  chuyện này. Nhưng rồi thời gian đã trả lời.

        Đầu năm 2011   trong Giai phẩm xuân Tân Mão Sài Gòn Tiếp Thị lần đầu tiên công bố những di bút rất riêng tư của  bà Ngô Vũ Dao Ánh em ruột của Ngô Vũ Diễm My . Bà Dao Ánh cho biết  40 năm ở nước ngoài   bà đã cất giữ 320 bức thư tình mà Trịnh Công Sơn đã viết cho bà  từ những năm  1964-1967. Những bài tình ca như Phúc âm buồn Tuổi đá buồn Lời buồn thánh Như cánh vạc bay Chiều một mình qua phố…đều viết cho Dao Ánh.  Dao Ánh còn giữ lại nguyên vẹn bản viết tay đầu tiên của Mưa hồng Tuổi đá buồn với lời đề tặng “bản của Ánh đó”.Có lẽ giai nhân Ngô Vũ Dao Ánh mới là người tình đầu tiên và  người tình bất tử của Trịnh Công Sơn. Kỷ niệm  10 năm ngày  mất của  Trịnh cuốn sách  in 320 bức thư tình ấy ra sra mắt bạn đọc. Thật hi hữu và xúc động Nhà thơ Nguyễn Duy người được gia đình Trịnh Công Sơn tin cậy giao phó việc biên tập và xuất bản tác phẩm Thư tình gửi một người thổ lộ: “Đọc hết ba trăm hai mươi bức thư tình tôi gần như choáng váng. Cảm ơn những người tình như Dao Ánh đã biết gìn giữ tình yêu của anh Sơn trong bốn mươi sáu năm qua tức là gần nửa thế kỷ. Dao Ánh vừa là một tình yêu rất cụ thể đồng thời là một tình yêu biểu tượng. Một tình yêu cụ thể đã chấm dứt nhưng biểu tượng tình yêu thì bất tử với thời gian…”.

More...

XUÂN SÁCH VẼ CHÂN DUNG NHÀ VĂN

By NGÔ MINH

XUÂN SÁCH VẼ CHÂN DUNG NHÀ VĂN

Ngô Minh

Xuân Sách là nhà văn đã “ngộ” ra thời cuộc trước nhiều người đã phát biểu bằng thơ về hoàn cảnh thân phận trớ trêu của các nhà văn Việt Nam ở miền Bắc thuộc loại sớm nhất. Nhà văn là tầng lớp tuy ít ỏi nhưng họ thể hiện rõ nhất bộ mặt tinh thần của xã hội qua từng giai đoạn. Nên Chân dung nhà văn chính là chân dung thời đại họ sống. Đến những năm 80 của thế kỷ trước Hoàng Ngọc Hiến mới phát hiện ra “văn học phải đạo” Nguyễn Minh Châu mới đọc “lời ai điếu “ cho loại “văn chương minh hoạ” những năm 90 Chế Lan Viên mới có “Di cảo thơ I” ” Di cảo thơ II” sám hối về những cái “không thể” xót xa của mình; rồi mãi đến năm 2006 Nguyễn Khải mới “ Đi tìm cái tôi đã mất” Đào Hiếu mới viết “Lạc đường”.v.v.. thì Xuân Sách đã “phổ biến” thơ chân dung từ 40 năm trước . Đây là chân dung một nhà phê bình: Vị nghệ thuật nửa cuộc đời / Nửa đời còn lại vị người ngồi trên / Thi nhân còn một chút duyên / Lại vò cho nát lại lèn cho đau/ Bình thơ tới thửa bạc đầu / Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình / Giật mình mình lại thương mình / Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan; hay chân dung một vài nhà thơ hàng đầu: Điêu tàn ư ? Đâu chỉ có điêu tàn / Ta nghĩ tới vàng sao từ thuở ấy / Chim báo bão lựa chiều cơn gió dậy / Lựa ánh sang trên đầu mà thay đổi sắc phù sa…; …Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát / Trông về Việt Bắc tít mù mây / Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt / Máu ở chiến trường hoa ở đây…; Chân dung một nhà văn : Ván bài lật ngửa tênh hênh / Con đường thiên lý gập ghềnh mãi thôi / Thay tên đổi họ mấy hồi / Vẫn chưa tới được chân trời mộng mơ.v.v.. Những bức ký hoạ đặc tả chân dung bằng lối chơi chữ tài tình lấy tên các tác phẩm của từng nhà văn để vẽ nên gương mặt thật của mỗi người của Xuân Sách không chỉ là sự trêu chọc tính cách của một người mà còn là bức chân dung đích thực của hoàn cảnh xã hội nhà văn sống . Cho nên 48 năm đời văn Xuân Sách ông xuất bản đến 8 tập tiểu thuyết và truyện 5 tập thơ trong đó có những cuốn truyện nổi tiếng “ Đội du kích thiếu niên Đình Bảng” bài thơ “ Đường chúng ta đi” nhạc sĩ Duy Du phổ thành bài hát cùng tên rất nổi tiếng mỗi lần hát lên đều xúc động niềm tự hào dân tộc; nhưng nhắc đến Xuân Sách mọi người thường gọi anh là “Nhà thơ chân dung” vì anh có tập thơ Chân dung Nhà văn gồm 99 bài thơ chân dung nhà văn và một bài “Tự hoạ” súc tích ngắn gọn đầy bản lĩnh đầy nhân văn và cũng đầy hệ luỵ tai tiếng…Nhà thơ chỉ đánh số bài không ghi rõ tên ai nhưng đọc thơ người đọc am hiểu văn chương đều nhận ra nét biếm hoạ tài hoa từng gương mặt đã biến dạng đi vì thời thế. Đó là một “sự kiện” không thể quên của lịch sử văn học Việt Nam. Tôi quen biết anh Xuân Sách từ khi anh “đi bước nữa” với chị Thanh Tú một người phụ nữ Quảng Bình quê tôi. Hai người về sống ở Vũng Tàu và gần như năm nào anh cũng về thăm quê vợ rồi vô Huế chơi với bạn bè. Tháng 7-1992 anh ghé Huế chơi tặng tôi một cuốn “Chân dung nhà văn” tôi đọc thấy mê quá liền đi ra phố photo ra thành mấy chục bản tặng bạn bè để bắt khao rượu. Có dịp tôi vào viết ở Nhà sáng tác Vũng Tàu tìm đến thăm anh và chị Tú. Lúc đó anh vừa đi tham quan Malaixia về. Anh khuy chai rượu Tây mang về từ chuyến đi rót chạm cốc với tôi và nhà thơ Lê Huy Mậu ( bây giờ Mậu là Chủ tịch Hội Văn nghệ Bà Rịa –Vũng Tàu như anh Sách ngày nào người đã có bài thơ Khúc hát sông quê Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc thành ca khúc được nhiều người ưa thích ) . Anh bảo “ Có lẽ đấy là ân huệ cuối cùng của chính quyền dành cho mình”. Nói rồi anh kể chuyện làm thế nào để cuốn chân dung xuất bản trọt lọt. “- cậu bảo làm sao vẽ / hết chân dung một thời / những kỳ nhông biến ảo / mặt nạ cười càng tươi” (NM). Anh còn kể chuyện từ khi tập thơ “Chân dung nhà văn” phát hành rộng rãi lãnh đạo địa phương không muốn anh làm Chủ tịch Hội văn nghệ muốn cơ cấu người khác nhưng anh em vẫn bầu anh cho đến khi đến tuổi hồi hưu. Gặp anh là nghe đọc thơ chân dung kể chuyện làm thơ chân dung say sưa sổi nổi hết buổi. Người anh gầy guộc lên nước như gỗ lũa. Anh là người đáo để trẻ trung châm chọc rất thông minh lém lỉnh. Anh có lối kể chuyện rất hóm bộc trực lôi cuốn với ánh mắt long lanh nụ cười cởi mở cái kiểu cười của người chưa từng sợ là gì. Có lần tôi cùng đoàn làm phim của Đài Truyền hình Huế ra Đồng Hới để quay bộ phim chân dung nữ nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ do tôi viết kịch bản. Thấy anh đang ngồi chơi ở Hội Văn nghệ tỉnh tôi nghĩ ngay ra cảnh Lâm Thị Mỹ Dạ gặp gỡ với bạn bè văn nghệ Quảng Bình. Tôi mời anh và kéo mọi người ra quán “Nghệ sĩ” của nhạc sĩ Hoàng Sông Hương bên cầu Mụ Kề ngồi nhâm nhi tí bia để quay phim. Vừa chạm ly có người đề nghị Xuân Sách đọc thơ chân dung thế là anh đọc say sưa từng bài đọc rồi giảng giải rất chi tiết. vì sợ những người trẻ ít đọc sách không hiểu. Thế là cả đoàn làm phim chúng tôi phải mất cả buổi sáng chỉ để quay một cảnh chưa đến một phần ba phút Nhưng anh em trong đoàn ai cũng ngạc nhiên thích thú khi ngồi trước “ông Tiên” lạ lùng Xuân Sách. Xuân Sách kể trong “Tâm sự của tác giả” in đầu tập thơ rằng anh bắt đầu nảy ra ý định làm thơ chân dung là nhờ một bài thơ chữ Hán của nhà văn Nguyễn Trọng Oánh. Năm 1962 trong quân đội có đợt học tập nghị quyết 9 nghị quyết chống xét lại căng thẳng lắm. Anh em văn nghệ thường hay ngồi sau cùng để được “tự do” hơn. Nhà văn Nguyễn Trọng Oánh xé vỏ bao thuốc lá Tam Đảo ghi một bài thơ bằng chữ Hán trao cho Xuân Sách. Ở Văn nghệ quân đội thời ấy hai người biết chữ Hán nên được anh em gọi là “ông đồ Nghệ ông Đồ Thanh” ( Thanh là Thanh Hoá quê của Xuân Sách). Bài thơ chữ Hán vịnh Xuân Thiều. Xuân Thiều có cái đầu hói bóng tóc lưa thưa con đường văn chương còn lận đận. Mới in được tập truyện ngăm Đôi vai và tiểu thuyết Chuyển vùng. Bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trọng Oánh : Văn nghiệp tiền trình khả điếu quân / Mao đầu tận lạc tự mao luân / Lưỡng kiên mai liễu phong trần lý / Chuyển địa hà thời chuyển đắc ngân. Xuân Sách dịch thơ : Con đường văn nghệp thương ông / Lông đầu rụng hết như lông cái đầu / Đôi vai gánh mãi càng đau / Chuyển vùng nào nữa làm sao thành tiền. Câu chơi chữ “đểu” nhất “nói thanh giảng tục” là câu : Lông đầu rụng hết như lông cái đầu. Bài thơ được anh em văn nghệ quân đội chuyền tay nhau đọc và ai cũng nén cười vì đang giờ học chính trị. “Còn Nguyễn Minh Châu thì gục xuống bàn kìm nén tiếng cười đến nỗi mặt đỏ bừng và nước mắt giàn dụa”. Thế là Xuân Sách nảy ra ý định viết thơ chân dung lấy tên tác phẩm của nhà văn và thái độ sống bản lĩnh văn chương của họ làm chất liệu để ký hoạ chân dung chính họ. Mới xem tưởng như là một sự trêu đùa. Nhưng thực ra những bài thơ chân dung của Xuân Sách không đùa tí nào mà rất nghiêm túc vì nó phản ảnh một sự thật đau lòng là không ít nhà văn của chúng ta không còn là mình nữa không còn là nhà văn của thân phận con ngườì nữa. Đó là sự mô tả tính cách và sự đánh giá nhà văn. Đau xót lắm nhưng không nói ra thì không ai biết. Chân dung nhà văn đầu tiên mà Xuân Sách ký hoạ bằng thơ là nhà văn Hồ Phương ( thiếu tướng đã nghỉ hưu vùa có tiểu thuyết CHA VÀ CON viết về ông Nguyễn Sinh Sắc và Nguyễn Sinh Cung tên tuổi nhỏ của chủ tịch Hồ Chí Minh). Lúc này anh Hồ Phương mới có tác phẩm “Trên biển lớn” ”Xóm mới” “Cỏ non” và truyện ngắn đầu tay Thư nhà : Trên biển lớn lênh đênh sông nước / Ngó trông về Xóm mới khuất xa / Cỏ non nay chắc đã già / Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem. Nghĩa là cuộc nhà văn không còn gì để viết nữa ngứa nghề lại dở bài viết cũ ra xem. Nhà văn Hồ Phương giận lắm còn Nguyễn Khải thì bảo :” Thằng này ghê thật không phải trò đùa nữa rồi!” Từ đó các bài thơ chân dung ra đời được mọi người chép chuyền tay nhau đọc trong các cuộc rượu. Những nhà văn quân đội lúc ấy như Vương Trí Nhàn Định Nguyễn Trần Hoàng Bách… rất hăng hái phổ biến thơ chân dung của Xuân Sách. Tướng Lê Quang Đạo lúc ấy là phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cũng rất thích thơ chân dung của Xuân Sách. Sự quan tâm yêu thích của tướng Đạo rất có lợi cho Xuân Sách vì lúc ấy có nhiều người bắt đầu lên tiếng phê phán. Theo nhà văn Hoàng Lại Giang thì sau giải phóng tướng Trần Độ về Vũng Tàu ghé anh Xuân Sách muốn nghe chính tác giả đọc "chân dung". Nghe xong anh Độ vẫn thấy chưa "đã". Anh ngỏ nhờ anh Xuân Sách ghi âm lại...” Xuân Sách đến đâu là đều “bị” mọi người đề nghị anh đọc thơ chân dung. Khen có giận có nguyền rủa có. Đã có đơn của cả một nhóm nhà văn cùng ký tên gửi lên trên phản đối kịch liệt . Nhưng cũng có những nhà văn đã bày tỏ sự thú vị khi được nghe chính Xuân Sách đọc thơ chân dung về mình như Xuân Diệu Nguyễn Tuân. Chế Lan Viên có bài chân dung rất “nặng đô” ( Lựa ánh sang trên đầu mà thay đổi sắc phù sa) cũng không nói gì vẫn bắt tay Xuân Sách thân thiện. Nhà văn hóa Đặng Thai Mai còn nhiều lần gọi Xuân Sách bảo anh làm thơ chân dung về mình. Nhà phê bình Hoài Thanh đọc bài thơ hoạ chân dung mình chỉ đề nghị sửa một chữ ( tôi nhớ anh Xuân Sách kể là ông Hoài Thanh đề nghị đổi chữ lại thành chữ phải - nửa đời còn phải vị người cấp trên ). Nghĩa là ông Hoài Thanh đồng tình dù bài thơ nói lên sự thật rất đau đớn về sự nghiệp của tác giả Thi nhân Việt Nam. Trong tập thơ Chân dung nhà văn không chỉ những tính cách gương mặt khốn khổ méo mó dị dạng vì ươn hèn luồn cúi để kiếm chức kiếm tiền hay vì vô tư ngộ nhận mà còn có những chân dung Xuân Sách rất ưu ái tỏ lòng chia sẻ . Ví dụ bài thơ chân dung Nguyên Ngọc : Mấy lần đất nước đứng lên / Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm / Hại thay một mạch nước ngầm / Cuốn trôi Đất Quảng lẫn Rừng Xà nu. Hay chân dung Quang Dũng : “Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi”/ Về làm xiếc khỉ với đời thôi / Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm / Sống tạm cho qua một kiếp người / Áo sờn thay chiếu anh về đất / Mây đầu ô trắng Ba Vì xanh / Gửi hồn theo mộng về Tây Tiến / “Sông Mã gầm lên khác độc hành” hay Nguyễn Khoa Điềm : Một mặt đường khát vọng / Cuộc chiến tranh đi qua /Rồi trở lại ngôi nhà / đốt lên ngọn lửa ấm / Ngủ ngoan A Kai ơi / Ngủ nngoan A Kai à…Thu Bồn : Chim Chơrao cất cánh ngang trời / Tình như chớp trắng cháy liên hồi / Đám mây cánh vạc tan thành nước / Mà đất baz an vẫn khát hoài…hay chân dung Bùi Minh Quốc Trần Mạnh Hảo Lưu Quang Vũ Dương Thu Hương Hoàng Phủ Ngọc Tường…cũng được Xuân Sách ưu ái cảm thông chia sẻ Nhưng làm thơ chân dung không ly kỳ hồi hộp bằng việc in thơ chân dung thành sách . Có nghĩa cấp giấy khai sinh cho những bài thơ đã nhiều năm lưu truyền không chính danh trong giới văn chương và trong xã hội. Khi lượng thơ chân dung đã lên đến số trăm Xuân Sách nghĩ đến việc xuất bản nó. Nhưng nhà xuất bản nào dám in loại thơ “nói xấu” đồng nghiệp ”có vấn đề” như vậy ? Trong một buổi hoàng hôn trên bờ biển Vũng Tàu mùa hạ năm 2004 anh Xuân Sách đã kể tôi nghe về những “mẹo mực” để cho cuốn sách ra đời. Năm 1991 một lần ra Hà Nội họp Xuân Sách nghĩ chỉ có Lữ Huy Nguyên vốn bao năm tâm đầu ý hợp hiểu Xuân Sách lại là người khí khái trung thực ghét của giả mới dám in loại thơ này. Anh bàn với nhà thơ Lữ Huy Nguyên Giám đốc nhà xuất bản Văn học về việc in một tập thơ nhỏ. Lữ Huy Nguyên ngỡ là tập thơ mới của Xuân Sách nên đồng ý ngay :” Anh cứ đưa bản thảo cho nhà xuất bản. In ngay”. Nhưng Xuân Sách nghĩ nếu đưa bản thảo ở Hà Nội anh em biên tập viên đọc thấy thơ chân dung “nói xấu” nhà văn này nhà văn khác họ sẽ báo cáo lên trên ngay. Thế là Xuân Sách nghĩ ngay đến việc nhờ nhà văn Hoàng Lại Giang ( nhà văn Hoàng Lại Giang quê Bình Định hiện nghỉ hưu ở Sài Gòn) một thời Trưởng Chi nhánh nhà xuất bản Văn học tại TP Hồ Chí Minh một người khí khái tâm huyết với đời. Trong hồi ức “ Con đường đi của “Chân dung nhà văn” Hoàng Lại Giang kể rằng anh Xuân Sách mời anh đến Vũng Tàu cho nghe hết toàn bộ băng thu giọng đọc thơ chân dung của Xuân Sách rồi ”… tôi và anh Xuân Sách bàn nhau việc in "chân dung nhà văn"… Chỉ lo vấn đề kỹ thuật in “. Thế là Xuân Sách điện mời Lữ Huy Nguyên giám đốc Nhà Xuất bản Văn học vào Vũng Tàu để cùng bàn. Xuân Sách đọc cho Lữ Huy Nguyên nghe cả trăm bài thơ chân dung. Chỉ chọn 99 bài viết thêm bài “tự hoạ” chân dung mình còn một số bài chân dung “gay cấn” quá phải để lại. Khi đọc riêng từng bài độ đậm đặc của tư tưởng không lớn nhưng khi tập hợp thành tập thì vấn đề nhân văn vấn dề xã hội nổi lên rất bức thiết. Lữ Huy Nguyên cầm tay Xuân Sách lắc lắc đồng ý in tập thơ: “Nếu có gì thì em sắn sàng chịu mất chức giám đốc về làm thơ. Nhưng phải đưa thơ này ra cuộc đời cho mọi người được đọc”. Nhưng in bằng cách nào ? Muốn in phải qua tay vài biên tập viên trưởng phòng đánh máy đưa đi nhà in chấm mo-rát…nghĩa là phải qua tay nhiều người một mình giám đốc nhà xuất bản không làm được. Mà nhiều người sẽ lộ. Cộng tác viên của PA25 nơi nào cũng có họ sẽ chặn ngay. Bàn bạc mãi hai nhà thơ thân thiết đã nghĩ ra một “quy trình” in tập thơ : Nhà thơ Xuân Sách tự viết tay lấy những bài thơ của mình rồi chụp phim chứ không đánh máy. May mà chữ viết của Xuân Sách rất đẹp nên khi in ra sách thấy gần gũi sang trọng hơn chữ in máy. Bìa trình bày đơn giản không gây sự chú ý. Lữ Huy Nguyên Hoàng Lại Giang cùng vài cán bộ thân cận nhất của mình trực tiếp đưa đi nhà in. Nhà in thì chọn một nhà in đặc biệt là nhà in Bộ nội vụ ( Bộ Công an bây giờ) vì ở đó họ luôn tin rằng những ấn phẩm in ở đấy đều là chính thống nên ít có cộng tác viên PA 25. Đó là một bất ngờ thú vị. Kế hoạch của hai người quả là mẹo Gia Cát Lượng. Sách in 3000 cuốn phát hành ngon ơ với giá 22 đồng ( tiền thời đó). Khi mọi sự đã rồi “các nhà” phát hiện ra thì Lữ Huy Nguyên đi điều trần giải thích đơn giản hoá vấn đề đi cho mọi người yên tâm. Lữ Huy Nguyễn trực tiếp viết lời cuối sách : “Chúng tôi coi đây là nét tự trào của giới cầm bút” “ những chân dung vốn đã khá phổ biến trong và ngoài giới văn học suốt vài chục năm qua” ”có thể gây ra sự không hài lòng đây đó…” ”Cái cười trong truyền thống dân gian vốn là vũ khí ngày nay còn có thể là sức mạnh thúc đẩy đi tới phía trước…Rất mong độc giả và các nhà văn nhận ra mối chân tình trong cuộc vui của làng văn và lượng thứ cho những khiếm khuyết” (Lời cuối sách). Tất cả công việc duyệt bài biên tập in ấn chỉ làm chớp nhoáng trong một tuần là nộp lưu chiểu và phát hành. Tập thơ Chân dung nhà văn ra đời như một quả bom nổ trong làng văn Việt Nam. Nó khơi dậy những suy nghĩ thật những tình cảm thật của mỗi người cầm bút. Nhưng trước áp lực căng thẳng của dư luận Hội nhà văn phản đối việc xuất bản "chân dung" buộc Bộ Văn hóa phải thu hồi "chân dung" và kỷ luật thích đáng... đối với tác giả và những người liên quan. Bộ Văn hoá đã mở một cuộc họp để quyết định số phận sách "chân dung" Cuộc họp gồm có 5 người. Ba thứ trưởng Bộ Văn hóa là Phan Hiền chủ trì nhà thơ Huy Cận và nhà thơ Nông Quốc Chấn . Nhà văn Vũ Tú Nam đại diện Hội nhà văn Lữ Huy Nguyên đại diện Nhà xuất bản văn học. Nhờ sự vận động hậu trường khi bỏ phiếu có 3 phiếu ủng hộ chỉ 2 phiếu chống. Kết luận cuối cùng là phê bình và cho niêm phong số sách “Chân dung..” còn lại. Thế là thoát. Bây giờ đã 16 năm sau khi tập thơ Chân dung nhà văn của Xuân Sách ra đời nhà thơ cũng đã thành người thiên cổ nhưng các nhà văn được vẽ chân dung dường như đã “ngộ” ra một chặng đường dài mình đã sống ngoài mình và viết cái ngoài mình “ thời thế thế thời thời phải thế” nên càng hiểu và yêu mến Xuân Sách hơn. Nhân ngày đưa tang nhà thơ Xuân Sách ở Hà Nội tôi ở xa không về viếng anh được bèn nhớ lại những kỷ niệm về anh những chuyện cũ chép lại như một nén nhang tưởng niệm. Có điều gì sơ suất rất mong các nhà văn và bạn đọc thể tình lượng thứ…

Huế 12-6-2008

More...

MAI VĂN HOAN LÀ RỨA ĐÓ !

By NGÔ MINH

 

MAI VĂN HOAN LÀ RỨA ĐÓ !

      Ngô Minh

        
         Từ trái sang: Trầy Thùy Mai Lâm Mỹ Dạ HPNgoc Tường Mai Văn Hoan
                vợ chồng nhà thơ Hoàng Cát. Ảnh NM chụp tại nhà  HPNT
          
 
         Làng Thanh Khê cát biển gió sóng bên bờ nam Sông Gianh ấy đã sinh ra 3 nhà văn  có chỗ đứng trên văn đàn Việt là Hoàng Bình Trọng Nguyễn Hữu Quý và Mai Văn Hoan. Có lẽ xứ ta chưa có một làng quê nào có nhiều nhà văn như vậy.  Đến  nay nhà thơ- thầy giáo Mai Văn Hoan đã in 6 tập thơ trữ tình: Ảo ảnh (1988) Giai điệu thời gian (1989) Hồi âm (1991) ) Trăng mùa đông (1997 ) Giếng Tiên (2003) ) Lục bát thơ ( 2006 ) và 4 tập phê bình tiểu luận. Thơ Mai Văn Hoan luôn được các bạn trẻ là sinh viên học sinh Vinh Huế Đồng Hới...  thuộc lòng  và chép đầy sổ tay . Nhưng khi nói về  Mai Văn Hoan người ta luôn kể về những lứa học trò và những câu chuyện lạ lùng bi hài cảm động...

More...

BẠN BIẾT GÌ VỀ NHÀ CÁCH TÂN TRẦN XUÂN BÁCH ?

By NGÔ MINH

MỘT TẤM LÒNG SON
Vũ Cao Đàm Bùi Thế Vĩnh Nguyễn Mạnh Tôn
 

  Ông Trần Xuân Bách là một nhà lãnh đạo có những tư tưởng cải cách rất mạnh dạn đã dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ trong Đảng CSVN và bản thân ông phải nhận những kỷ luật nặng nề của Đảng. Nhân ngày giỗ đầu của ông (1/1/2007) những người thuộc nhóm cộng sự của ông đã viết bài gửi một tờ báo đã từng viết về tư tưởng cải cách của ông nhưng rất tiếc bài viết đã không có may mắn được xuất hiện trên công luận. Nhân kỷ niệm làn thứ năm ngày ông mất (1/1/2011) nhóm cộng sự xin gửi bài viết này tới trang Bauxite Việt Nam để tỏ lòng tưởng nhớ kính cẩn tới một chí sỹ đã dành những năm tháng cuối đời của mình cho một ý tưởng cải cách chưa thành đạt của ông. Vũ Cao Đàm

More...

THƯƠNG TIẾC NHÀ BÁO NHÀ THƠ NGUYỄN SĨ CỨ

By NGÔ MINH

 

THƯƠNG TIẾC NHÀ BÁO NHÀ THƠ NGUYỄN SĨ CỨ

                                                                        Ngô Minh

           
         NgoMinh Ho The Hà Vinh Nguyen Nguyen Khac Thach Mai van Hoan ( chup anh) tham Si Cu  ngay 4-8-2010
Tôi đang ngủ say thì vợ đánh thức thút thít báo tin :" Anh ơi bạn em ở Hà Nội điện báo tin Sĩ Cứ mất rồi".  Tôi bàng hoàng. Đó là lúc nửa khuya. Từ đó hai vợ chồng tôi thức rì rầm những kỷ niệm về Sĩ Cứ . Chao ơi cái thằng bạn chân tình chung thuỷ của gia đình tôi hơn ba chục năm qua một người thơ nặng lòng với cuộc đời đã không còn trên cõi trần này nữa rồi ! Mới hôm nào tôi ra Hà Nội dự Đại hội Nhà văn vợ tôi gửi theo một xách thanh trà quả ngon chỉ riêng Huế có để làm quà cho bà Chắt Cầu và  cho mợ Long và các cháu. Tôi và các anh trong đoàn Nhà văn Huế đến thăm thấy Cứ rầy rạc đi mà nghẹn lòng. Nằm mãi không ngủ được tôi dậy mở mạng nguyentrongtao.org mới hay Nguyễn Sĩ Cứ qua đời lúc 21h50 ngày15/10/2010 nghĩa là đã ba tiếng rồi. Trời anh 59 tuổi đời còn nhiều tứ thơ ấp ủ còn bao nhiêu dự định  cho tương lai con cái...

More...

ĐỖ HOÀNG VÀ KIỀU THƠ

By NGÔ MINH

 

Bạn đọc thân mến. Đõ Hoàng ( tên thật là Đỗ Hữu Lời) Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam  là bạn học cùng lớp cấp 3 Lệ Thuỷ với Ngô Minh Lâm Thị Mỹ Dạ Hải Kỳ Lê Đình Ty Nguyễn Minh Hoàng.v.v..Cả một lớp  làm thơ từ ấy cho đến bây giờ. Lớp tôi học tiếng Hán với thầy giáo Ngữ người Hà Nội ba năm liền. Ai cũng học rồi quên riêng Đỗ Hoàng thì nhớ. Đỗ Hoàng đọc thơ Đỗ Phủ Lý Bạch... bằng chữ Hán dịch thơ chữ Hán rồi  làm thơ chữ Hán. Bất ngờ nhất là  Đỗ Hoàng  vừa cho  xuất bản tập Kiều Thơ dịch phóng tác  nguyên bản truyện Đoạn trường Tân Thanh của Thanh Tâm Tài Nhân . Thật đáng đồng tiền bát gạo. QUÀ TẶNG XỨ MƯA xin in lại bài viết Nguyễn Trần Thái để bạn đọc hiểu thêm về nhà thơ Đỗ Hoàng


ĐỖ HOÀNG VÀ KIỀU THƠ

Nguyễn Trần Thái


        
           Năm 1996 trong giới văn chương ở Hà Nội thấy bàn tán nhỏ to về tập thơ "Tâm sự người lính" của Đỗ Hoàng. Tôi lúc ấy chưa được đọc. Nghe đâu cuốn sách đó đã bị thu hồi. Cũng là người lính trở về sau chiến tranh tôi tò mò muốn coi cho tường và muốn biết tác giả Đỗ Hoàng.

   Bẵng đi một thời gian. Một buổi chiều tại "Sân 51" nơi có trụ sở của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam đóng dưới gốc cây cổ thụ tôi uống rượu cùng mấy bậc đàn anh trong hội. Một người dáng tầm thước mặt chữ điền tóc cắt gọn mắt đen nâu miệng tủm tỉm vai đeo túi "dết" to chùng sệ mông. Anh đến bên nhà thơ Phạm Tiến Duật ghé sát và nói điều gì đó. Đấy là nhà thơ Đỗ Hoàng lần đầu tôi gặp. Được biết anh lúc ấy đang làm biên tập cho tạp chí "Diễn đàn Văn Nghệ Việt Nam" thời nhà văn Hồ Phương làm tổng biên tập. Hôm sau tôi tìm đến đưa cho Đỗ Hoàng một chùm thơ cũng là kiếm cớ làm quen. 

More...

LINH THIÊNG "CÔ SÁU"

By NGÔ MINH

 

LINH THIÊNG "CÔ SÁU"
 Ngô Minh

 

       
         Nói đến người con gái anh hùng của quê hương Đất Đỏ Võ Thị Sáu thì ai ai cũng biết. Khắp nước ta ở thành phố thị xã nào cũng có đường Võ Thị Sáu nhiều nơi có trung học tiểu học mang tên Võ Thị Sáu. Nhiều người còn thuộc lòng lý lịch chị Sáu: Võ Thị Sáu sinh năm 1933 tại thị trấn Đất Đỏ huyện Long Đất. Năm 1947 khi mới 14 tuổi chị Sáu trở thành chiến sĩ trinh sát của Đội Công an xung phong Đất Đỏ. Tết Canh Dần (1950) Võ Thị Sáu tình nguyện tìm diệt bọn ác ôn chuyên vào chợ Đất Đỏ quê chị để cướp bóc. Diệt được bọn ác ôn này nhưng Sáu lại bị bọn ác ôn khác đuổi theo bắt được. Tháng 4-1950  Võ Thị Sáu bị giam ở khám Chí Hoà. Bọn Pháp mở phiên toà xử chị "án tử hình" khi chưa đủ tuổi thành niên. Pháp sợ dư luận phản đối nên chúng đưa Võ Thị Sáu ra Côn Đảo để hành quyết. Bốn giờ sáng ngày 21-1-1952 tàu chở Võ Thị Sáu cùng với 40 tù chính trị và 3 tử tù nữa vượt biển ra Côn Đảo.

More...

Đôi nét về nhà ngoại cảmPhan Thị Bích Hằng

By NGÔ MINH

 

ĐÔI NÉT VỀ NHÀ NGOẠI CẢM
Phan Thị Bích Hằng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Phan Thị Bích Hằng (sinh năm 1971- ) là một nhà ngoại cảm nổi tiếng ở Việt Nam[1]. Cô là người đã sử dụng khả năng đặc biệt của mình trong thời gian gần 20 năm qua để giúp hàng ngàn gia đình tìm kiếm hài cốt người thân bị thất lạc. Việc tìm hiểu khảo nghiệm khả năng ngoại cảm của Bích Hằng có thể giúp cho các nhà khoa học giải đáp nhiều vấn đề cứ liệu liên quan đến thế giới tâm linh.[2]

More...

THƠ CHÂN DUNG

By NGÔ MINH

THƠ CHÂN DUNG
Phạm Xuân Dũng
 


1.Xuân Đức
                 Anh từ cửa gió chui ra
                 Đời thường vớ vấn rầy rà thịt xôi
                 Người không mang họ đi rồi
                 Đò xưa lặng lẽ đứng ngồi không yên.
2.Lê Đức Dục
                 Ngỡ mình đức ít dục nhiều
                 Nên trồng bồ kết chạc chìu trong thơ
                 Còn đây thương nhớ ngày xưa
                 Anh sang tuổi trẻ được mùa nhân sâm.

More...

" MỆ HUẾ" NGUYỄN TUÂN

By NGÔ MINH

 

"MỆ HUẾ"  NGUYỄN TUÂN 

  Ngô Minh

         
          Chưa có nhà văn người Hà Nội nào rành Huế đậm đặc "chất Huế" như Nguyễn Tuân. Có thể nói Nguyễn Tuân là một "mệ" Huế.  Năm 1986 ông vô Huế.  Mấy anh em viết văn trẻ chúng tôi đến khách sạn nói là thăm ông thực ra là để xem mặt nhà văn lớn. Ông cười hỏi tên từng người rồi lục ba lô lấy ra một nậm rượu và mấy cái chén mắt trâu Bát Tràng . Ông vừa rót rượu vừa nói giọng Huế ngọt lịm : "Cái thằng Vân ni được lắm không thua gì thằng Chuồn Huế mô". Ông đưa chén rượu đến từng người rồi bất chợt phán :" Các "Mệ" làm chủ tập thể đi !".   Tôi rụt rè :" Thưa sao anh biết rượu Chuồn ?". Ông cười vuốt râu lại nói giọng Huế :" Mình đã uống rượu Chuồn  từ khi các "mệ" chưa có trên cõi đời ni nghe chưa !".

More...