“ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM QUA CỬU ĐỈNH HUẾ” CUỐN SÁCH CÔNG PHU VÀ CUỐN HÚT

By NGÔ MINH

alt

“ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM QUA CỬU ĐỈNH HUẾ”      

CUỐN SÁCH CÔNG PHU VÀ CUỐN HÚT

                                                              Ngô Minh

  Nhà xuất bản Tri thức vừa  ấn hành cuốn sách quý :“ Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế” của nhà văn  Dương Phước Thu. Cuốn sách cuốn hút. Tôi đọc một đêm một mạch hơn 300 trang sách rất hưng phấn. Có lẽ bởi lâu nay đã có nhiều bài viết về Cửu Đỉnh nhưng đều mang tính giới thiệu sơ lược không  sâu sắc. Sách :“ Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế” biên khảo lý giải rất chi tiết rất sâu và cảm động từng chữ từng hình ảnh khắc trên Cửu Đỉnh. Cửu Đỉnh- báu vật bằng đồng vô giá “một bộ Đại Nam nhất thống chí bằng hình ảnh vô cùng độc đáo được đúc khắc trên chín đỉnh đồng đồ sộ đầu tiên của Việt Nam một Tượng đài văn hóa Việt nên phải có sự biên khảo cẩn thận như thế là xác đáng. Nhà văn Dương Phước Thu viết sách này “với tất cả công tâm lẫn công phu….đã đối chiếu từ các nguồn sử liệu với thực tế diễn biến theo dòng lịch sử  và cả trong thực tiễn đời sống tại mỗi địa phương có liên quan đến Cửu Đỉnh để đính chính những nhầm lẫn những sai sót trước đây ; và đã đưa ra được một cách nhìn mới có chiều sâu hơn  . Tất cả  nhằm làm sáng tỏ  thêm những giá trị minh triết được cổ nhân thể hiện bằng đường nét nghệ thuật ẩn dụ cao siêu chuyển hóa tinh tế qua chữ nghĩa hình ảnh hình tượng trên thân Cửu Đỉnh.( Lời giới thiệu của KTS Phùng Phu).

 

          Cuốn sách được sắp xếp các phần chương từ khái quát đến cụ thể làm cho người đọc hiểu sâu hơn minh triết của người xưa.  Đầu tiên là phần tổng luận giới thiệu quan niệm về Đỉnh Cửu đỉnh và Quẻ đỉnh theo quan niệm Số học và Dịch học Đông Phương và lịch sử đúc đỉnh của các triều đại xưa ở Trung Quốc và Việt Nam quá trình đúc Cửu đỉnh đỉnh dưới thời vua Minh Mạng . Tại sao  lại là cửu đỉnh ? Số chín ( 9) là con số trời . Số cực hạn của trời đất bắt đầu ở 9 . “Số 1 là Trời số 2 là Đất số 3 là Người vậy  3 nhân 3 thành 9- đó là con số linh công năng tượng trưng của nó là vô hạn”. Theo Kinh Dịch “quẻ Đỉnh có cái nghĩa rất tốt. Quẻ đỉnh do bởi  hai quẻ đơn là quỷ Ly và quẻ Tốn  ghép thành. Mà tự quẻ Ly đã có đức thông minh sáng suốt; quẻ Tốn có đức vui thuận …Vậy quẻ Đỉnh có đủ đức sáng suốt vui thuận đắc trung  cương nhu ứng viện nhau để làm việc đời thì có việc gì mà không hanh thông “. Luận về Đỉnh tác giả viết :”Đỉnh tức cái vạc (dùng để nấu ăn) . Từ thuở nguyên xưa lúc mới hình thành các vạc với ý niệm của  của nghĩa tương trưng về lễ khí thần thánh nên cũng gọi là cái đỉnh. Về sau người ta phân biệt vạc là vạc đỉnh là đỉnh . Đỉnh là một thứ trọng khí được đúc bằng kim loại có hai quai (tai) và ba chân cấu trúc hình dạng và chức năng tôn kính tượng trưng cho quyền lực thống trị của nhà nước quân chủ. Vua Minh Mạng nới :”Đỉnh là để tỏ rõ ra ngôi vị đã đúng danh mệnh đã tự tại. Thực là đồ quý ở nhà Tôn miếu…”Đó là để tỏ mong rằng muôn năm bền vững dõi truyền đời sau” ” Việc đúc đỉnh cố nhiên là ở nhân công nhưng  quý trọng mà làm được không phải không có thần giúp sức” ( Đại Nam thực lục chính biên). Tác giả  dành riêng  Chương 2 ( Phần thứ nhất) để  trình bày quá trình đúc Cửu Đỉnh để nói về nghệ thuật đúc đồng điêu luyện tinh xảo của  các thợ đúc Huế thế kỷ XIX. Để đúc nên những vật phẩm bằng đồng theo mẫu tạo quan trọng nhất là thiết kế vẽ mẫu rồi làm phôi khuôn;  Người thợ phải làm ra những chiếc khuôn theo kích cỡ mẫu mã ký tự hoa lá chim muông cảnh vật…để khi đúc ra các mẫu tạo ấy sẽ được kết dính với nhau một cách tự nhiên giống như tự than nó mọc ra vậy. Phức tạp tiếp theo là với cách làm thủ công  làm sao để rót những mẻ đúc chính xác với những chiếc đỉnh cao lớn như vậy. Riêng việc đót lò để đức khắc cảnh làm nguội  các hình tượng ẩn dụ trên đỉnh  phải hơn một năm mới hoàn thành. Tổng khối lượng nguyên vật liệu (đồng kẽm thiệc) để đúc 9 đỉnh là  22.088 kg khi đúc xong tổng lượng còn lại của 9 đỉnh  xấp xỉ 20.310 kg tỷ lệ hao hụt là  1.778 kg ( 8 06 %) . Đọc phần  này ta càng khấm phục trình độ đúc đồng  rất cao của những người thời đúc đồng Việt Nam họ tính toán rất chi li và  chuẩn xác.

 

          Phần hấp dẫn nhất trong sách: “Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế” là phần giới thiệu nội dung và ý nghĩa của các hình khắc trên Cửu Đỉnh. Mỗi hình đều có  ảnh chụp đặc tả. Trên mỗi đỉnh vua Minh Mạng cho khắc 17 cảnh và 1 họa thư. Họa thư là hai chữ Hán lớn là chũ đỉnh và  chữ tên đỉnh . Họa thư 9 đỉnh là : Cao Đỉnh Nhân Đỉnh Chương đỉnh Anh Đỉnh Nghị đỉnh Thuần Đỉnh Tuyên đỉnh Dụ đỉnh Huyền đỉnh. Mỗi đỉnh có 17 cảnh sông núi mây gió hoa cỏ cây trái.v.v.. đặc trưng cho 3 miền Việt Nam tổng công 153 cảnh ( 1+5+3 = 9). Số 9 là tư tưởng chủ đạo của việc chọn cảnh của vua Minh Mạng . Qua biên khảo nghiên cứu  nhà văn Dương Phước Thu đã có một phát hiện thú vị : Tất cả các loại cảnh vật đều được  chọn lọc và sắp xếp theo số 9:    9 vì tinh tú và thiên nhiên trong vũ trụ  là: Mặt trời mặt trăng gió sấm mây. Mưa các sao Ngũ Tinh Bắc Đẩu Nam Đẩu ; 9 Chính ngọn núi lớn : Thiên Tôn Ngự Bình Thương Sơn Hồng Lĩnh Tảo Viên Núi Duệ Đại Lãnh Hải Vân Đèo Ngang ; 9 sông lớn : Bến Nghé Sông Hương Sông Gianh sông Mã song Lô sông Bạch Đằng Thạch Hãn Sông Lam Sông Hồng; 9 con sông đào và sông khác :Vĩnh Tế Vĩnh Điện Lợi Nông sông Vệ Sông Phổ Lợi sông Thao Cửu An Sông Ngân . Rồi 9 cửa biển cửa quan biển cầu vồng ;  9 con thú lớn bốn chân ;  9 con vật linh;  9 loài chim; 9 loài cây lương thực; 9 loại rau củ; 9 loại hoa; 9 loại cây lấy quả; 9 loại dược liệu quý; 9 loại cây rthân gỗ; 9 loại vũ khí; 9 loài cá ốc côn trùng; 9 loại thuyền xe cờ. Tất cả những số 9 ấy hòa quyện với nhau tạo nên một bức tranh thiên nhiên sông núi đất trời Việt Nam hoành tráng.

 

            Về ý nghĩa và nội dung các hình ảnh khắc trên Cửu Đỉnh sách đã đi sâu nghiên cứu nguồn  gốc và vị trí của  hình ảnh trong sự nghiệp dựng nước của Vương triều Nguyễn và sự thống nhất toàn vẹn cuả quốc gia Đại Việt. Mỗi hình ảnh  2 trang  giới thiệu cô đọng mà đầy đủ để người đọc hiểu thêm tại sao  hình ảnh này được chọn khắc. Nhà văn đã dày công suqwu tầm tài liệu đọc so sánh để đi đến sự minh xác trong từng nhận xét nội dung. Ví dụ trên CAO ĐỈNH đỉnh lớn nhất đặt ở chính giữa tượng cho sự vĩ đại có nhiều hình ảnh  liên quan công cuộc mở cõi của các Chúa Nguyễn như Sông Bến Nghé ( Ngưu Chữ Giang) kênh Vĩnh Tế ( Vĩnh Tế Hà) núi Thiên Tôn . Xin nói  về  Thiên Tôn Sơn ( núi Thiên Tôn) ở phía tây bắc huyện Hà Trung Thanh Hóa. Núi Thiên Tôn còn gọi là núi  Triệu Trường là hòn núi  không lớn nhưng đây là nơi có Gia Miêu ngoại trang là nơi phát tích Vương Triều Nguyễn với  9 chúa  13  vua nguyên quán của dòng họ Nguyễn Phúc có lăng Triệu Tổ Nguyễn Kim và Lăng Đức Bà ( vợ Nguyễn Kim) . Năm Minh Mạng thứ 2 ( 1821) dụ rằng :” Nước nhà ta gây dựng  nghiệp lớn giữ mệnh trời lâu dài. Kính nghĩ lăng Tổ khí thiêng chung đúc chứa chất phúc lành phong thần Núi hiệu là Thiên Tôn đều làm đến thờ để  đáp ơn thần”.  Tác giả còn cho biết núi Thiên Tôn  liền  mạch với  dãy Tam Điệp núi Thần Phù Trạch Lâm Trang Chữ…Năm 1788 vua Quang Trung Nguyễn Huệ từ Phú Xuân  dẫn đại binh ra bắc  đánh đuổi quân xâm lược nhà Thanh  đã cho lập đại bản doanh ở vùng núi thiêng này làm lễ tế cờ. Người am tường binh pháp nói rằng chiến công oai hùng của vua Quang Trung đại phá quân Thanh đã được Sơn Thần ở Thanh Hóa-Tam điệp linh thiêng phù trợ.

           Hãy đọc và ngẫm  “ Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế” sẽ tìm được ở đây  nhiều  chuyện thú vị mà mình  chưa từng biết.

 

---------

Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế” Dương Phước Thu

NXB Thi Thức 1-2011

More...

KHI NGƯỜI NHẬT CÚI CHÀO

By NGÔ MINH

alt

Ngô Minh

KHI NGƯỜI NHẬT CÚI CHÀO

 Ở xứ ta lãnh đạo chỉ  vênh mặt trước dân chứ không bao giờ cúi chào dân.
Cúi chào thế giới lại càng không vì Việt Nam là lương tâm thời đại.
 Người Nhật thì khác. Họ cúi chào vì họ cao hơn…
 

Ngày 1-9-1923 động đất xẩy ra tại Tokyo. Thảm họa cũng nghiền nát thành phố cảng Yokohama. 145.000 người bị thiệt mạng 570.000 ngôi nhà bị phá hủy và 1 9 triệu người vô gia cư. Vậy mà không đầy một thập niên sau nước Nhật không chỉ hồi phục mà còn phát triển để trở thành một cường quốc. Người Nhật không ngẩng đầu mà chắp tay cúi chào Thế giới.

Ngày 6 tháng 8 năm 1945 quả bom nguyên tử mang tên "Little Boy" ( cậu bé nhỏ) của Mỹ ném xuống Hiroshima. Sau đó 3 ngày quả bom thứ hai mang tên "Fat Man" ( người đàn ông mập) đã nổ trên bầu trời Nagasaki . Hai quả bom làm  214.000 người chết.  Nước Nhật  tiêu điều. Bao nhiêu tích cóp thời Minh Trị tan tành mây khói. 3 triệu người chết. 40% nhà máy và hạ tầng công nghiệp bị phá hủy. Thế mà người Nhật đã làm nên những kỳ tích thần kỳ. Chỉ 15 năm sau Nhật đã trở thành một cường quốc kinh tế.  Người nhật không ngẩng cao đầu mà chắp tay cúi chào Thế giới

Năm 1995   trận động đất kinh hoàng đã san bằng phố cảng Kobe trung tâm sản xuất lớn nhất của Nhật cảng thương mại lớn thứ sáu thế giới. 6.400 người chết. 300.000 người vô gia cư . Tổn thất hơn 100 tỉ USD. Thế mà chỉ 12 tháng sau mậu dịch tại cảng Kobe bắt đầu hoạt động và chỉ trong 15 tháng khu vực sản xuất bằng 98% thời điểm trước thảm họa.  Người Nhật không ngẩng cao đầu mà chắp tay cúi chào chào Thế giới.

 Ngày 11/3/2011 trận động cường độ  9 0 richter  mạnh nhất từng được ghi  trong lịch sử Nhật Bản tạo nên những cơn sóng thần cao 10 mét quất vào vùng bờ biển đông bắc. Hơn 10.000 người thiệt mang 15.000  người mất tích; gây thiệt hai 200 tỷ USD và sẽ mất 160 tỷ USD để tái thiết. 550.000 người được sơ tán. 215.000 người đang tập trung tại các trung tâm trú ẩn. 200.000  người phải sơ tán khỏi vùng nguy hiểm quanh nhà máy điện nguyên tử Fukushima I đang gặp sự cố rò rỉ hạt nhân. Người Nhật đang vật lộn từng ngày để khắc phục thảm họa không khác gì “tận thế”. Nhưng thế giới vẫn tin người Nhật không chỉ  khắc phục mà sẽ nhanh chóng hồi phục sức mạnh và văn hóa một cường quốc . Vì nước Nhật là DUY TÂN và TRONG SẠCH.  Thủ tướng Nhật chắp tay cúi đầu xin lỗi  nhân dân và cám ơn tấm lòng thế giới

 Và tháng ba mùa hoa anh đào lại về  trên đất Nhật

 Huế ngày 29 tháng 3-2011

NM

 

More...

THƠ NGÔ MINH “NGUYÊN CẦU CHO NẠN NHÂN ĐỘNG ĐẤT TẠI NHẬT BẢN”

By NGÔ MINH

 

alt

  “NGUYÊN CẦU CHO NẠN NHÂN ĐỘNG ĐẤT TẠI NHẬT BẢN” :

  Ngô Minh

 MẶT TRỜI  ĐỎ

 Ông già bị sóng thần tung lên mái nhà rồi bay ra biển

Sau hôn mê đại dương mở mắt

ông già hai tay giương cao

 hay níu vào

mảnh mặt trời

Nhật Bản

 Geisha Tsuyako Ito

 Geisha Tsuyako Ito ở Kamaish

Chuẩn bị đi diễn thì sống thần xô đến

Nước Nhật ơi đời bà Ito 84 tuổi đã ba lần bị sóng thần cuốn đi như thế

Mà lần nào tỉnh dậy

vẫn lại gặp cây đàn shamisen

và điệu múa geisha

 

30 BÔNG ANH ĐÀO Ở SENDAI

 Ba mươi đứa trẻ Sendai bị sóng thần cuốn vào một mái trường

Sáu ngày chờ mong sáu ngày lạnh giá

Người mẹ đầu tiên khóc mở cửa tìm con

Thấy 30 bông anh đào

đang nở

 

 Huế 29-3-2011

More...

“NGƯỜI TÌNH” TRỊNH CÔNG SƠN

By NGÔ MINH

alt
Trịnh Công Sơn- Ngô Vũ Dao Ánh        

  alt 

               

“NGƯỜI TÌNH” TRỊNH CÔNG SƠN

                                                                      Ngô Minh

         1.  10 năm Trịnh Công Sơn  rời xa “cõi tạm” âm nhạc của Trịnh vẫn  vang lên ở mọi ngõ ngách trong tâm thức Việt đời sống Việt. Trong hơn 600 ca khúc Trịnh Công Sơn gửi lại ngoài  âm nhạc cách mạng nhạc phản chiến còn lại  đa phần là tình ca . Có thể nói Trịnh Công sơn là người tình của cuộc đời của con người của thiên nhiên muôn thuở : Tàn đông con nước kéo lên / Chút tình mới chớm đã viên thành...( Đoá hoa vô thường) ; hay Chiều nay còn mưa sao em không lại  / Nhỡ mai trong cơn đau vùi  / Làm sao có nhau hằn lên nỗi đau  ( Diễm xưa).v.v.. Vậy NGƯỜI TÌNH  của Trịnh Công Sơn là ai ? Đó là câu hỏi của bạn của tôi mỗi khi nghĩ về Trịnh …

   Tôi là người sinh sau gặp anh Sơn khi Huế giải phóng .Gần gũi mấy năm tôi không nghe anh kể chuyện nhiều về  những mối tình của mình . Phong phanh bạn bè kể rằng anh Sơn đã một lần ’cưới vợ’ đầu những năm 60 của thế kỷ trước. “Ngươì tình” Trịnh Công Sơn đó là một người đẹp nổi tiếng  ở Sài Gòn có tên là Th. Hoàng Phủ Ngọc Tường kể : Cô ấy là một người Hoa. Đám cưới sang trọng . Sau đám cưới phòng “tân hôn” của cô dâu chú rể vẫn ở khách sạn. Bạn bè cũng nghỉ ở đó mai mới về. Đêm mọi người  cứ tưởng Trịnh sẽ có một đêm “động phòng” hạnh phúc nhưng trong khuya bỗng Trịnh Công Sơn chạy sang  xin nằm ngủ với bạn… Không hiểu  thông tin ấy chính xác tới mức nào. Theo nhà văn Bửu Ý người bạn rất thân của Trịnh chính xác thì Trịnh Công Sơn đã hai lần tính chuyện “cưới vợ”. Cả hai lần đều sau 1975. Lần thứ nhất là năm 1983 Trịnh chuẩn bị cưới   người phụ nữ có tên là C.N.N sống ở Paris. Trịnh đã gửi thư cho Bửu Ý ngày 30.7.1983  rằng  “Moi sẽ làm đám cưới trong tháng tới. Cố gắng vào thì vui hơn” nhưng dự định cưới vợ lần ấy của Trịnh đã không thành . Năm 1990 Trịnh Công Sơn lại tổ chức cưới vợ người phụ nữ này là V.A lễ cưới đã chuẩn bị xong cô dâu đã may áo cưới nhưng đến phút cuối không hiểu tại sao anh lại khước từ hạnh phúc. Ngoài những “người đẹp” trên có một cô gái Nhật Bản tên là  Michiko yêu Trịnh tha thiết và Trịnh cũng yêu. Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường trong  cuốn bút ký “Trịnh Công Sơn- Cây đàn lia của Hoàng tử bé” ( NXB Trẻ 2005) thì Nhiều thiếu nữ ”fan” của nhạc Trịnh Công Sơn vẫn lui tới với anh hằng ngày tìm thấy ở anh một tình bạn vong niên thật dễ thông cảm vừa là một người tình lãng du của  mọi lứa tuổi. Nhiểu bạn gái trong đó có những người tình cũ của anh đã trở về thăm anh như thăm lại nỗi cô đơn bẩm sinh khi người ta còn trẻ”. Cô gái Nhật Bản Yosshii Michico đã bỏ ra  ba năm học tiếng Việt để  nói chuyện được với Trịnh .Và làm luận văn cao học về nhạc nhạc phản chiến của Trịnh . Trịnh cũng có những năm tháng yêu một ca sĩ Hà Nội và đã viết những bài hát riêng cho ca sĩ này thể hiện . Trịnh Công Sơn thổ lộ:” Phải cảm ơn H.N vì nàng đã làm cho mình không chỉ tồn tại như một kẻ nhắc vở đến từ quá khứ”. Nhưng tất cả cuộc tình đều không đi đến kết quả. Nên  kết cục Trịnh Công Sơn đã đi vào cõi vĩnh hằng một mình như khi mẹ sinh ra !   “Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”…  

                  

           2. Nhưng nếu tính “người tình ”tâm hồn của Trịnh phải kể đến Bích Diễm Khánh Ly.  Sau ca khúc  “Ướt mi” đầu thập niên 60  ở  Huế   Trịnh Công Sơn đã rung động theo hình ảnh một thiếu nữ mảnh mai con của một vị giáo sư dạy Pháp văn: Ngô Vũ Bích Diễm. Hình ảnh này sẽ vương lại mãi trong trái tim ông như một vết thương  thành vết sẹo giữa cuộc đời.  Ca khúc nổi tiếng “Diễm xưa” ra đời một ca khúc đánh dấu đặc biệt trong đời của Trịnh và tồn tại lâu bền

                                        Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ

                                        Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao…

                                                                                ( Diễn Xưa)

        Diễm xưa đã trở thành một hình dung từ chỉ cái đẹp nhạc Trịnh mà không biết bao nhiêu thương nhân Việt đã lấy để đặt tên cho quán của mình.. Hỏi về chuyện Diễn xưa Trịnh Công Sơn trả lời rằng :” Ngày xưa dường như cả thế hệ tôi là vậy yêu một mái tóc một dáng hình một ngày chỉ cần nhìn thấy mặt nhau thấy em qua khung cửa sổ là cả ngày thấy vui”. Trong ca khúc Diễm Xưa có đoạn ca từ bất tử : Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động / Làm sao em biết bia đá không đau / Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng / Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau. Ấy là triết lý cuộc đời triết lý Thiền mà Trịnh Công Sơn đã phát hiện ra  từ khi còn rất trẻ.

         Nhưng phải nói rằng với Trịnh Công Sơn Khánh Ly mới là Người Tình muôn đời. Dường như toàn bộ tình ca Trịnh là viết riêng dành cho giọng hát Khánh Ly . Nói theo cách của Hoàng Phủ Ngọc Tường  thì “với Sơn Khánh Ly luôn luôn là giọng hát Người Tình”.  Sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn Trịnh Công Sơn được bổ lên dạy học ở  Bảo Lộc. Và Trịnh đã gặp Khánh Ly với cái tên Lệ Mai ở phòng trà Tulipe Rouge Đà Lạt. Thế là “nên duyên” . Nhạc Trịnh Công Sơn bắt nguồn từ triết học hiện sinh và tư tưởng Phật học nhưng lại chọn riêng một  NGƯỜI TÌNH để  gửi – đó là Khánh Ly.   Trịnh nghe Khánh Ly hát nhận ra ngay  giọng hát của cô ca sĩ này phù hợp với những bản nhạc tâm thức  của mình . Trịnh Công Sơn kể : “Gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly là một may mắn tình cờ không phải riêng cho tôi mà còn cho cả Khánh Ly…Tôi đã mời Khánh Ly hát và rõ ràng giọng hát của Khánh Ly rất hợp với những bài hát của mình. Từ lúc đó Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa.  Khánh Ly kể lại giai đoạn cơ cực  nhưng đầy hạnh phúc ấy: “Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu cắc bạc nào phải chịu đói chịu khổ chịu nghèo không cần biết đến ngày mai không cần biết tới ai cả mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh…” Những ngày tháng cuối năm 1965 đó bằng cây đàn guitar thùng đơn giản Trịnh Công Sơn và Khánh Ly đã làm say đắm hàng ngàn khán giả mỗi đêm diễn. Hình như họ sinh ra để có nhau vì nhau vì những bản tình ca.

 

           Hồi đó  Trịnh Công Sơn với dáng người mảnh khảnh cặp kính trắng giọng Huế nhỏ nhẹ. Đêm đi hát khuya về kê ghế bố ngủ với bạn bè ở Quán Văn hay Hội Họa sĩ Trẻ. Bên cạnh đó hình ảnh Khánh Ly khi hát đi chân đất – nữ hoàng chân đất của một thời – giọng hát da diết diễn tả nỗi trầm thống vô vọng: “tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”. Hai người đi với nhau tạo nên hình ảnh “đôi lứa” một đôi trai-gái trong tình bạn hồn nhiên trong sáng.   Trong dư luận họ cũng không bị nghi ngờ hay tai tiếng dù người đời có kẻ thắc mắc tò mò... Những tâm hồn phóng khoáng và “hiện đại” thì gạt phăng đi loại “tò mò bệnh hoạn ấy” “ . Và đặc biệt Trịnh Công Sơn là người tăm tiếng mà không tai tiếng. Sơn nói: “Tôi và Khánh Ly chỉ là hai người bạn. Thương nhau vô cùng trên tình bạn” . Khánh Ly viết: “Một mối liên hệ cao hơn đẹp đẽ hơn thánh thiện hơn là những tình cảm đời thường” ; hay :” Trịnh Công Sơn là một nửa đời sống của tôi”…Tình cảm tình yêu thánh thiên  của Trịnh Công Sơn- Khánh Ly thời đó như là một biểu tượng  phá vỡ lề thói Nho giáo trói buộc tình cảm nam nữ. Đó chính là Bá Nha-Tử Kỳ thời hiện đại !

 

            Năm 1975 Khánh Ly rời Việt Nam  sang định cư ở Mỹ còn Trịnh thì cương quyết ở lại Việt Nam vì “Việt Nam là nơi duy nhất tôi có thể sống và sáng tác. Ở nước ngoài tôi không nghe ra tiếng nhạc trong đầu mình tôi không nghe được câu thơ tôi viết ra. Tôi thích đi nước ngoài nhưng nếu ở lâu tôi sẽ khô cạn và chết mất. Hơi ấm của dân tộc Việt Nam giống như nước cần thiết cho hoa vậy”. Đau nỗi đau chia ly Trịnh Công Sơn đã viết ca khúc:” Em còn nhớ hay em đã quên” mà ai nghe hát cũng nghĩ là viết tặng Khánh Ly : Em còn nhớ hay em đã quên  / Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng / Nhớ phố xưa quen biết tên bàn chân

              Năm 1982 Trịnh Công Sơn sang Canada  thăm em và đã gặp Khánh Ly. Sau lần gặp Khánh lý viết :” Có ai trong chúng tôi nghĩ rằng có một ngày nào đó phải thương nhớ nhau từng phút giây. Tuy vậy bằng cách nào đó chúng tôi vẫn ở trong trí tưởng của mọi người như ngày đầu ngồi với nhau vào đời nhau bằng những bản tình ca” ( Hoàng Phủ Ngọc Tường-  Trịnh Công Sơn và cây đàn lia và hoàng tử bé).

 

             Trong  hồi ức về Trịnh Công Sơn “Những kỷ niệm còn mãi  trong tôi” nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ kể rằng trong căn nhà ở Khu chung cư Nguyễn Tường Tộ Huế anh Sơn ngồi tay cầm cây bút xạ mũi viết vẫn còn hướng xuống mặt bàn khuôn mặt anh thảng thốt. Anh viết hai chữ Khánh Ly  đầy cả một tấm giấy gần kín mặt bàn. Có lẽ anh Sơn viết rất lâu nên nó mới nhiều đến thế… Thấy Mỹ Dạ đến anh Sơn cho dạ xem  tập ảnh chụp Trịnh Công Sơn chụp chung với Khánh Ly. Trong đó có bức Khánh Ly ngồi trong lòng Trịnh Công Sơn trên hai bắp đùi. Rồi anh Sơn  hỏi :” Dạ có biết  ai chụp hình cho tụi mình không ?. Dạ lắc đầu. Anh Sơn bảo :” Chồng của Khánh Ly đấy .”. Đúng là NGƯỜI TÌNH muôn đời của Trịnh Công Sơn.

 

             3.Nhưng đó là những người tình  cụ thể dù rất đẹp vẫn là cái hiện hữu. NGƯỜI TÌNH  của Trịnh Công Sơn biểu hiện qua toàn bộ tình ca của anh  ảo diệu hơn nhiều ám ảnh hơn nhiều. Trịnh Công Sơn nói :” Với ca khúc tôi là người tình của thiên nhiên. Tình yêu cho phép những ca khúc ra đời. Nỗi đau và niềm hân hoan làm thành bào thai sinh nở ra âm nhạc”. Anh lại nói :”Tình yêu cứu vãn hư không “. Anh Sơn  nói :” Nỗi ám ảnh lớn nhất đeo đẳng tôi từ thuở còn nhỏ cho tới sau này  vẫn luôn luôn bị ám ảnh là  cái chết… Có lẽ do tôi quá yêu cuốc sống sợ mất nó… Vì thế trong thế giới ca từ Trịnh Công Sơn  có rất nhiều  chữ phai tàn phai chết lá rụng như vôi nhỡ .v.v.. ” Bao nhiêu năm làm kiếp con người/ Để một chiều tóc trắng như vôi…( Cát bụi); Nhỡ mai trong cơn đau vùi / Làm sao có nhau hằn lên nỗi đauôi cát bụi phận này/ vết mực nào xoá bỏ không hay ( Cát bụi); yêu trăm năm và chết một ngày.v.v.. Và NGƯỜI TÌNH CUỘC SỐNG ấy hiện ra trong  âm nhạc Trịnh bao giờ cũng là những cô gái gầy guộc nhỏ như cánh vạc về chốn xa xôi;…  Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay.v.v..Nghĩa là mong manh lắm dễ vỡ lắm. Phải thương yêu hết lòng cưu mang hết lòng mới cứu vớt được. Đồng thời tình yêu  của kiếp người bao giờ cũng là tình phôi pha tình sầu tình phụ tình buồn tình trôi tình hư vôTa thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô ( Rừng xưa đã khép) ; Tuổi buồn em mang đi trong hư vô ngày qua hững hờ ( Tuổi đá buồn).v.v.. Đó là Phúc âm buồn của  cõi người luôn mong được sẻ chia đồng cảm! 

             Đó là những “vị hôn thê chưa cưới”. Còn “người tình” tâm tưởng góp phần làm nên sức lắng đọng bền bỉ của  âm nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ không ai biết hết được ngoài anh ra. Những năm 1962- 1964 để tránh đi  quân dịch Trịnh Công Sơn rời Huế thi vào trường Sư phạm Quy Nhơn và học trong hai năm. Ở thành phố biển xinh đẹp này Trịnh đã sáng tác một loạt bản  tình ca nổi tiếng gây kinh ngạc và sự thán phục cho công chúng. Sau đó nhạc sĩ lên sống ở Bảo Lộc Lâm Đồng vẫn viết  những ca khúc cho một người . 10 năm qua chưa tài liệu nào nói tới  chuyện này. Nhưng rồi thời gian đã trả lời.

        Đầu năm 2011   trong Giai phẩm xuân Tân Mão Sài Gòn Tiếp Thị lần đầu tiên công bố những di bút rất riêng tư của  bà Ngô Vũ Dao Ánh em ruột của Ngô Vũ Diễm My . Bà Dao Ánh cho biết  40 năm ở nước ngoài   bà đã cất giữ 320 bức thư tình mà Trịnh Công Sơn đã viết cho bà  từ những năm  1964-1967. Những bài tình ca như Phúc âm buồn Tuổi đá buồn Lời buồn thánh Như cánh vạc bay Chiều một mình qua phố…đều viết cho Dao Ánh.  Dao Ánh còn giữ lại nguyên vẹn bản viết tay đầu tiên của Mưa hồng Tuổi đá buồn với lời đề tặng “bản của Ánh đó”.Có lẽ giai nhân Ngô Vũ Dao Ánh mới là người tình đầu tiên và  người tình bất tử của Trịnh Công Sơn. Kỷ niệm  10 năm ngày  mất của  Trịnh cuốn sách  in 320 bức thư tình ấy ra sra mắt bạn đọc. Thật hi hữu và xúc động Nhà thơ Nguyễn Duy người được gia đình Trịnh Công Sơn tin cậy giao phó việc biên tập và xuất bản tác phẩm Thư tình gửi một người thổ lộ: “Đọc hết ba trăm hai mươi bức thư tình tôi gần như choáng váng. Cảm ơn những người tình như Dao Ánh đã biết gìn giữ tình yêu của anh Sơn trong bốn mươi sáu năm qua tức là gần nửa thế kỷ. Dao Ánh vừa là một tình yêu rất cụ thể đồng thời là một tình yêu biểu tượng. Một tình yêu cụ thể đã chấm dứt nhưng biểu tượng tình yêu thì bất tử với thời gian…”.

More...

THÔNG BÁO ỦNG HỘ QUỸ PHÙNG QUÁN

By NGÔ MINH

THÔNG BÁO ỦNG HỘ QUỸ PHÙNG QUÁN

 Kính gửi  độc giả  ngưỡng mộ nhà thơ Phùng Quán

         Sau khi xây dựng lăng mộ vợ chồng nhà thơ Phùng Quán-nhà giáo  Vũ Bội Trâm xong số tiền còn lại  chúng tôi  đã lập QUỸ PHÙNG QUÁN và tiếp tục kêu gọi sự hỗ trợ để QUỸ PHÙNG QUÁN  ngày càng lớn lên trước cơn lạm phát đang tăng hiện nay.

Cho đến  ngày 25-3- 2011 chúng tôi đã nhận được hỗ trợ QUỸ PHÙNG QUÁN của những “Mạnh thường quân” sau :

1- Nhà thơ Bành Thanh  Bần Hà Nội 5 .000.000 VNĐ

2-Ông chủ đỏ Lê Minh Ngọc Sài Gòn         5.000.000 VNĐ

3-Ông Đỗ Đức Trích Vũng Tàu                   3.000.000 VNĐ

 Rất cảm ơn những tấm lòng đối với nhà thơ Phùng Quán

                                                 TM BQL QUỸ PHÙNG QUÁN

                                                            Nhà thơ Ngô Minh

More...

THÔNG BÁO CỦA NGÔ MINH

By NGÔ MINH

THÔNG BÁO CỦA NGÔ MINH Kính thưa độcgiả bốn phương. Ngô Minh làm blog QUÀ TẶNG XỨ MƯA từ đầu năm 2007 đến nay đã 4 năm. Đã thông tin đến bạn đọc nhiều chuyện vui buồn qua các bài viết. Từ sau ngày 25/2/2011 máy của Ngô MInh bị mất thanh công cụ để post bài mới chỉnh sửa bài nên không thể gửi bài mới đến độc giả được Ngô Minh đã nhờ nhiều người giúp đỡ nhưng việc phục hồi không thành. NgôMinh nghi đây là sựcoos do cuộc CÁCH MẠNG HOA LÀI gây ra. Hôm nay Ngô Minh xin thông báo là tạm dừng chơi bog Vnweblogs.com cho đến khi Admin phục hồi lại các công cụ đẻ post bài chỉnh sửa bài. Cám ơn bạn đọc bốn phương 4 năm qua đã theo dõi đọc comment từng bài trong blog QUÀ TẶNG XỨ MƯA. Xin gửi đến mọi người lời chào kính trọng Kính NGÔ MINH Chủ bút QUÀ TĂNG XỨ MƯA

More...

XUÂN SÁCH VẼ CHÂN DUNG NHÀ VĂN

By NGÔ MINH

XUÂN SÁCH VẼ CHÂN DUNG NHÀ VĂN

Ngô Minh

Xuân Sách là nhà văn đã “ngộ” ra thời cuộc trước nhiều người đã phát biểu bằng thơ về hoàn cảnh thân phận trớ trêu của các nhà văn Việt Nam ở miền Bắc thuộc loại sớm nhất. Nhà văn là tầng lớp tuy ít ỏi nhưng họ thể hiện rõ nhất bộ mặt tinh thần của xã hội qua từng giai đoạn. Nên Chân dung nhà văn chính là chân dung thời đại họ sống. Đến những năm 80 của thế kỷ trước Hoàng Ngọc Hiến mới phát hiện ra “văn học phải đạo” Nguyễn Minh Châu mới đọc “lời ai điếu “ cho loại “văn chương minh hoạ” những năm 90 Chế Lan Viên mới có “Di cảo thơ I” ” Di cảo thơ II” sám hối về những cái “không thể” xót xa của mình; rồi mãi đến năm 2006 Nguyễn Khải mới “ Đi tìm cái tôi đã mất” Đào Hiếu mới viết “Lạc đường”.v.v.. thì Xuân Sách đã “phổ biến” thơ chân dung từ 40 năm trước . Đây là chân dung một nhà phê bình: Vị nghệ thuật nửa cuộc đời / Nửa đời còn lại vị người ngồi trên / Thi nhân còn một chút duyên / Lại vò cho nát lại lèn cho đau/ Bình thơ tới thửa bạc đầu / Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình / Giật mình mình lại thương mình / Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan; hay chân dung một vài nhà thơ hàng đầu: Điêu tàn ư ? Đâu chỉ có điêu tàn / Ta nghĩ tới vàng sao từ thuở ấy / Chim báo bão lựa chiều cơn gió dậy / Lựa ánh sang trên đầu mà thay đổi sắc phù sa…; …Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát / Trông về Việt Bắc tít mù mây / Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt / Máu ở chiến trường hoa ở đây…; Chân dung một nhà văn : Ván bài lật ngửa tênh hênh / Con đường thiên lý gập ghềnh mãi thôi / Thay tên đổi họ mấy hồi / Vẫn chưa tới được chân trời mộng mơ.v.v.. Những bức ký hoạ đặc tả chân dung bằng lối chơi chữ tài tình lấy tên các tác phẩm của từng nhà văn để vẽ nên gương mặt thật của mỗi người của Xuân Sách không chỉ là sự trêu chọc tính cách của một người mà còn là bức chân dung đích thực của hoàn cảnh xã hội nhà văn sống . Cho nên 48 năm đời văn Xuân Sách ông xuất bản đến 8 tập tiểu thuyết và truyện 5 tập thơ trong đó có những cuốn truyện nổi tiếng “ Đội du kích thiếu niên Đình Bảng” bài thơ “ Đường chúng ta đi” nhạc sĩ Duy Du phổ thành bài hát cùng tên rất nổi tiếng mỗi lần hát lên đều xúc động niềm tự hào dân tộc; nhưng nhắc đến Xuân Sách mọi người thường gọi anh là “Nhà thơ chân dung” vì anh có tập thơ Chân dung Nhà văn gồm 99 bài thơ chân dung nhà văn và một bài “Tự hoạ” súc tích ngắn gọn đầy bản lĩnh đầy nhân văn và cũng đầy hệ luỵ tai tiếng…Nhà thơ chỉ đánh số bài không ghi rõ tên ai nhưng đọc thơ người đọc am hiểu văn chương đều nhận ra nét biếm hoạ tài hoa từng gương mặt đã biến dạng đi vì thời thế. Đó là một “sự kiện” không thể quên của lịch sử văn học Việt Nam. Tôi quen biết anh Xuân Sách từ khi anh “đi bước nữa” với chị Thanh Tú một người phụ nữ Quảng Bình quê tôi. Hai người về sống ở Vũng Tàu và gần như năm nào anh cũng về thăm quê vợ rồi vô Huế chơi với bạn bè. Tháng 7-1992 anh ghé Huế chơi tặng tôi một cuốn “Chân dung nhà văn” tôi đọc thấy mê quá liền đi ra phố photo ra thành mấy chục bản tặng bạn bè để bắt khao rượu. Có dịp tôi vào viết ở Nhà sáng tác Vũng Tàu tìm đến thăm anh và chị Tú. Lúc đó anh vừa đi tham quan Malaixia về. Anh khuy chai rượu Tây mang về từ chuyến đi rót chạm cốc với tôi và nhà thơ Lê Huy Mậu ( bây giờ Mậu là Chủ tịch Hội Văn nghệ Bà Rịa –Vũng Tàu như anh Sách ngày nào người đã có bài thơ Khúc hát sông quê Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc thành ca khúc được nhiều người ưa thích ) . Anh bảo “ Có lẽ đấy là ân huệ cuối cùng của chính quyền dành cho mình”. Nói rồi anh kể chuyện làm thế nào để cuốn chân dung xuất bản trọt lọt. “- cậu bảo làm sao vẽ / hết chân dung một thời / những kỳ nhông biến ảo / mặt nạ cười càng tươi” (NM). Anh còn kể chuyện từ khi tập thơ “Chân dung nhà văn” phát hành rộng rãi lãnh đạo địa phương không muốn anh làm Chủ tịch Hội văn nghệ muốn cơ cấu người khác nhưng anh em vẫn bầu anh cho đến khi đến tuổi hồi hưu. Gặp anh là nghe đọc thơ chân dung kể chuyện làm thơ chân dung say sưa sổi nổi hết buổi. Người anh gầy guộc lên nước như gỗ lũa. Anh là người đáo để trẻ trung châm chọc rất thông minh lém lỉnh. Anh có lối kể chuyện rất hóm bộc trực lôi cuốn với ánh mắt long lanh nụ cười cởi mở cái kiểu cười của người chưa từng sợ là gì. Có lần tôi cùng đoàn làm phim của Đài Truyền hình Huế ra Đồng Hới để quay bộ phim chân dung nữ nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ do tôi viết kịch bản. Thấy anh đang ngồi chơi ở Hội Văn nghệ tỉnh tôi nghĩ ngay ra cảnh Lâm Thị Mỹ Dạ gặp gỡ với bạn bè văn nghệ Quảng Bình. Tôi mời anh và kéo mọi người ra quán “Nghệ sĩ” của nhạc sĩ Hoàng Sông Hương bên cầu Mụ Kề ngồi nhâm nhi tí bia để quay phim. Vừa chạm ly có người đề nghị Xuân Sách đọc thơ chân dung thế là anh đọc say sưa từng bài đọc rồi giảng giải rất chi tiết. vì sợ những người trẻ ít đọc sách không hiểu. Thế là cả đoàn làm phim chúng tôi phải mất cả buổi sáng chỉ để quay một cảnh chưa đến một phần ba phút Nhưng anh em trong đoàn ai cũng ngạc nhiên thích thú khi ngồi trước “ông Tiên” lạ lùng Xuân Sách. Xuân Sách kể trong “Tâm sự của tác giả” in đầu tập thơ rằng anh bắt đầu nảy ra ý định làm thơ chân dung là nhờ một bài thơ chữ Hán của nhà văn Nguyễn Trọng Oánh. Năm 1962 trong quân đội có đợt học tập nghị quyết 9 nghị quyết chống xét lại căng thẳng lắm. Anh em văn nghệ thường hay ngồi sau cùng để được “tự do” hơn. Nhà văn Nguyễn Trọng Oánh xé vỏ bao thuốc lá Tam Đảo ghi một bài thơ bằng chữ Hán trao cho Xuân Sách. Ở Văn nghệ quân đội thời ấy hai người biết chữ Hán nên được anh em gọi là “ông đồ Nghệ ông Đồ Thanh” ( Thanh là Thanh Hoá quê của Xuân Sách). Bài thơ chữ Hán vịnh Xuân Thiều. Xuân Thiều có cái đầu hói bóng tóc lưa thưa con đường văn chương còn lận đận. Mới in được tập truyện ngăm Đôi vai và tiểu thuyết Chuyển vùng. Bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trọng Oánh : Văn nghiệp tiền trình khả điếu quân / Mao đầu tận lạc tự mao luân / Lưỡng kiên mai liễu phong trần lý / Chuyển địa hà thời chuyển đắc ngân. Xuân Sách dịch thơ : Con đường văn nghệp thương ông / Lông đầu rụng hết như lông cái đầu / Đôi vai gánh mãi càng đau / Chuyển vùng nào nữa làm sao thành tiền. Câu chơi chữ “đểu” nhất “nói thanh giảng tục” là câu : Lông đầu rụng hết như lông cái đầu. Bài thơ được anh em văn nghệ quân đội chuyền tay nhau đọc và ai cũng nén cười vì đang giờ học chính trị. “Còn Nguyễn Minh Châu thì gục xuống bàn kìm nén tiếng cười đến nỗi mặt đỏ bừng và nước mắt giàn dụa”. Thế là Xuân Sách nảy ra ý định viết thơ chân dung lấy tên tác phẩm của nhà văn và thái độ sống bản lĩnh văn chương của họ làm chất liệu để ký hoạ chân dung chính họ. Mới xem tưởng như là một sự trêu đùa. Nhưng thực ra những bài thơ chân dung của Xuân Sách không đùa tí nào mà rất nghiêm túc vì nó phản ảnh một sự thật đau lòng là không ít nhà văn của chúng ta không còn là mình nữa không còn là nhà văn của thân phận con ngườì nữa. Đó là sự mô tả tính cách và sự đánh giá nhà văn. Đau xót lắm nhưng không nói ra thì không ai biết. Chân dung nhà văn đầu tiên mà Xuân Sách ký hoạ bằng thơ là nhà văn Hồ Phương ( thiếu tướng đã nghỉ hưu vùa có tiểu thuyết CHA VÀ CON viết về ông Nguyễn Sinh Sắc và Nguyễn Sinh Cung tên tuổi nhỏ của chủ tịch Hồ Chí Minh). Lúc này anh Hồ Phương mới có tác phẩm “Trên biển lớn” ”Xóm mới” “Cỏ non” và truyện ngắn đầu tay Thư nhà : Trên biển lớn lênh đênh sông nước / Ngó trông về Xóm mới khuất xa / Cỏ non nay chắc đã già / Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem. Nghĩa là cuộc nhà văn không còn gì để viết nữa ngứa nghề lại dở bài viết cũ ra xem. Nhà văn Hồ Phương giận lắm còn Nguyễn Khải thì bảo :” Thằng này ghê thật không phải trò đùa nữa rồi!” Từ đó các bài thơ chân dung ra đời được mọi người chép chuyền tay nhau đọc trong các cuộc rượu. Những nhà văn quân đội lúc ấy như Vương Trí Nhàn Định Nguyễn Trần Hoàng Bách… rất hăng hái phổ biến thơ chân dung của Xuân Sách. Tướng Lê Quang Đạo lúc ấy là phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cũng rất thích thơ chân dung của Xuân Sách. Sự quan tâm yêu thích của tướng Đạo rất có lợi cho Xuân Sách vì lúc ấy có nhiều người bắt đầu lên tiếng phê phán. Theo nhà văn Hoàng Lại Giang thì sau giải phóng tướng Trần Độ về Vũng Tàu ghé anh Xuân Sách muốn nghe chính tác giả đọc "chân dung". Nghe xong anh Độ vẫn thấy chưa "đã". Anh ngỏ nhờ anh Xuân Sách ghi âm lại...” Xuân Sách đến đâu là đều “bị” mọi người đề nghị anh đọc thơ chân dung. Khen có giận có nguyền rủa có. Đã có đơn của cả một nhóm nhà văn cùng ký tên gửi lên trên phản đối kịch liệt . Nhưng cũng có những nhà văn đã bày tỏ sự thú vị khi được nghe chính Xuân Sách đọc thơ chân dung về mình như Xuân Diệu Nguyễn Tuân. Chế Lan Viên có bài chân dung rất “nặng đô” ( Lựa ánh sang trên đầu mà thay đổi sắc phù sa) cũng không nói gì vẫn bắt tay Xuân Sách thân thiện. Nhà văn hóa Đặng Thai Mai còn nhiều lần gọi Xuân Sách bảo anh làm thơ chân dung về mình. Nhà phê bình Hoài Thanh đọc bài thơ hoạ chân dung mình chỉ đề nghị sửa một chữ ( tôi nhớ anh Xuân Sách kể là ông Hoài Thanh đề nghị đổi chữ lại thành chữ phải - nửa đời còn phải vị người cấp trên ). Nghĩa là ông Hoài Thanh đồng tình dù bài thơ nói lên sự thật rất đau đớn về sự nghiệp của tác giả Thi nhân Việt Nam. Trong tập thơ Chân dung nhà văn không chỉ những tính cách gương mặt khốn khổ méo mó dị dạng vì ươn hèn luồn cúi để kiếm chức kiếm tiền hay vì vô tư ngộ nhận mà còn có những chân dung Xuân Sách rất ưu ái tỏ lòng chia sẻ . Ví dụ bài thơ chân dung Nguyên Ngọc : Mấy lần đất nước đứng lên / Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm / Hại thay một mạch nước ngầm / Cuốn trôi Đất Quảng lẫn Rừng Xà nu. Hay chân dung Quang Dũng : “Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi”/ Về làm xiếc khỉ với đời thôi / Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm / Sống tạm cho qua một kiếp người / Áo sờn thay chiếu anh về đất / Mây đầu ô trắng Ba Vì xanh / Gửi hồn theo mộng về Tây Tiến / “Sông Mã gầm lên khác độc hành” hay Nguyễn Khoa Điềm : Một mặt đường khát vọng / Cuộc chiến tranh đi qua /Rồi trở lại ngôi nhà / đốt lên ngọn lửa ấm / Ngủ ngoan A Kai ơi / Ngủ nngoan A Kai à…Thu Bồn : Chim Chơrao cất cánh ngang trời / Tình như chớp trắng cháy liên hồi / Đám mây cánh vạc tan thành nước / Mà đất baz an vẫn khát hoài…hay chân dung Bùi Minh Quốc Trần Mạnh Hảo Lưu Quang Vũ Dương Thu Hương Hoàng Phủ Ngọc Tường…cũng được Xuân Sách ưu ái cảm thông chia sẻ Nhưng làm thơ chân dung không ly kỳ hồi hộp bằng việc in thơ chân dung thành sách . Có nghĩa cấp giấy khai sinh cho những bài thơ đã nhiều năm lưu truyền không chính danh trong giới văn chương và trong xã hội. Khi lượng thơ chân dung đã lên đến số trăm Xuân Sách nghĩ đến việc xuất bản nó. Nhưng nhà xuất bản nào dám in loại thơ “nói xấu” đồng nghiệp ”có vấn đề” như vậy ? Trong một buổi hoàng hôn trên bờ biển Vũng Tàu mùa hạ năm 2004 anh Xuân Sách đã kể tôi nghe về những “mẹo mực” để cho cuốn sách ra đời. Năm 1991 một lần ra Hà Nội họp Xuân Sách nghĩ chỉ có Lữ Huy Nguyên vốn bao năm tâm đầu ý hợp hiểu Xuân Sách lại là người khí khái trung thực ghét của giả mới dám in loại thơ này. Anh bàn với nhà thơ Lữ Huy Nguyên Giám đốc nhà xuất bản Văn học về việc in một tập thơ nhỏ. Lữ Huy Nguyên ngỡ là tập thơ mới của Xuân Sách nên đồng ý ngay :” Anh cứ đưa bản thảo cho nhà xuất bản. In ngay”. Nhưng Xuân Sách nghĩ nếu đưa bản thảo ở Hà Nội anh em biên tập viên đọc thấy thơ chân dung “nói xấu” nhà văn này nhà văn khác họ sẽ báo cáo lên trên ngay. Thế là Xuân Sách nghĩ ngay đến việc nhờ nhà văn Hoàng Lại Giang ( nhà văn Hoàng Lại Giang quê Bình Định hiện nghỉ hưu ở Sài Gòn) một thời Trưởng Chi nhánh nhà xuất bản Văn học tại TP Hồ Chí Minh một người khí khái tâm huyết với đời. Trong hồi ức “ Con đường đi của “Chân dung nhà văn” Hoàng Lại Giang kể rằng anh Xuân Sách mời anh đến Vũng Tàu cho nghe hết toàn bộ băng thu giọng đọc thơ chân dung của Xuân Sách rồi ”… tôi và anh Xuân Sách bàn nhau việc in "chân dung nhà văn"… Chỉ lo vấn đề kỹ thuật in “. Thế là Xuân Sách điện mời Lữ Huy Nguyên giám đốc Nhà Xuất bản Văn học vào Vũng Tàu để cùng bàn. Xuân Sách đọc cho Lữ Huy Nguyên nghe cả trăm bài thơ chân dung. Chỉ chọn 99 bài viết thêm bài “tự hoạ” chân dung mình còn một số bài chân dung “gay cấn” quá phải để lại. Khi đọc riêng từng bài độ đậm đặc của tư tưởng không lớn nhưng khi tập hợp thành tập thì vấn đề nhân văn vấn dề xã hội nổi lên rất bức thiết. Lữ Huy Nguyên cầm tay Xuân Sách lắc lắc đồng ý in tập thơ: “Nếu có gì thì em sắn sàng chịu mất chức giám đốc về làm thơ. Nhưng phải đưa thơ này ra cuộc đời cho mọi người được đọc”. Nhưng in bằng cách nào ? Muốn in phải qua tay vài biên tập viên trưởng phòng đánh máy đưa đi nhà in chấm mo-rát…nghĩa là phải qua tay nhiều người một mình giám đốc nhà xuất bản không làm được. Mà nhiều người sẽ lộ. Cộng tác viên của PA25 nơi nào cũng có họ sẽ chặn ngay. Bàn bạc mãi hai nhà thơ thân thiết đã nghĩ ra một “quy trình” in tập thơ : Nhà thơ Xuân Sách tự viết tay lấy những bài thơ của mình rồi chụp phim chứ không đánh máy. May mà chữ viết của Xuân Sách rất đẹp nên khi in ra sách thấy gần gũi sang trọng hơn chữ in máy. Bìa trình bày đơn giản không gây sự chú ý. Lữ Huy Nguyên Hoàng Lại Giang cùng vài cán bộ thân cận nhất của mình trực tiếp đưa đi nhà in. Nhà in thì chọn một nhà in đặc biệt là nhà in Bộ nội vụ ( Bộ Công an bây giờ) vì ở đó họ luôn tin rằng những ấn phẩm in ở đấy đều là chính thống nên ít có cộng tác viên PA 25. Đó là một bất ngờ thú vị. Kế hoạch của hai người quả là mẹo Gia Cát Lượng. Sách in 3000 cuốn phát hành ngon ơ với giá 22 đồng ( tiền thời đó). Khi mọi sự đã rồi “các nhà” phát hiện ra thì Lữ Huy Nguyên đi điều trần giải thích đơn giản hoá vấn đề đi cho mọi người yên tâm. Lữ Huy Nguyễn trực tiếp viết lời cuối sách : “Chúng tôi coi đây là nét tự trào của giới cầm bút” “ những chân dung vốn đã khá phổ biến trong và ngoài giới văn học suốt vài chục năm qua” ”có thể gây ra sự không hài lòng đây đó…” ”Cái cười trong truyền thống dân gian vốn là vũ khí ngày nay còn có thể là sức mạnh thúc đẩy đi tới phía trước…Rất mong độc giả và các nhà văn nhận ra mối chân tình trong cuộc vui của làng văn và lượng thứ cho những khiếm khuyết” (Lời cuối sách). Tất cả công việc duyệt bài biên tập in ấn chỉ làm chớp nhoáng trong một tuần là nộp lưu chiểu và phát hành. Tập thơ Chân dung nhà văn ra đời như một quả bom nổ trong làng văn Việt Nam. Nó khơi dậy những suy nghĩ thật những tình cảm thật của mỗi người cầm bút. Nhưng trước áp lực căng thẳng của dư luận Hội nhà văn phản đối việc xuất bản "chân dung" buộc Bộ Văn hóa phải thu hồi "chân dung" và kỷ luật thích đáng... đối với tác giả và những người liên quan. Bộ Văn hoá đã mở một cuộc họp để quyết định số phận sách "chân dung" Cuộc họp gồm có 5 người. Ba thứ trưởng Bộ Văn hóa là Phan Hiền chủ trì nhà thơ Huy Cận và nhà thơ Nông Quốc Chấn . Nhà văn Vũ Tú Nam đại diện Hội nhà văn Lữ Huy Nguyên đại diện Nhà xuất bản văn học. Nhờ sự vận động hậu trường khi bỏ phiếu có 3 phiếu ủng hộ chỉ 2 phiếu chống. Kết luận cuối cùng là phê bình và cho niêm phong số sách “Chân dung..” còn lại. Thế là thoát. Bây giờ đã 16 năm sau khi tập thơ Chân dung nhà văn của Xuân Sách ra đời nhà thơ cũng đã thành người thiên cổ nhưng các nhà văn được vẽ chân dung dường như đã “ngộ” ra một chặng đường dài mình đã sống ngoài mình và viết cái ngoài mình “ thời thế thế thời thời phải thế” nên càng hiểu và yêu mến Xuân Sách hơn. Nhân ngày đưa tang nhà thơ Xuân Sách ở Hà Nội tôi ở xa không về viếng anh được bèn nhớ lại những kỷ niệm về anh những chuyện cũ chép lại như một nén nhang tưởng niệm. Có điều gì sơ suất rất mong các nhà văn và bạn đọc thể tình lượng thứ…

Huế 12-6-2008

More...

44 NĂM TRƯỚC MỘT CỤ RÙA HỒ GƯƠM ĐÃ CHẾT

By NGÔ MINH

 Cụ rùa chết như thế nào?
 Trong lúc cụ rùa Hồ Gươm đang được hàng triệu người dân quan tâm lo ngại sức khỏe của cụ ngày càng bị xâm hại bởi những tác động ngoại cảnh cũng như môi trường sống của cụ bị đe dọa... ít ai biết được câu chuyện về cái chết của một cụ rùa khác đang được dựng tiêu bản tại đền Ngọc Sơn.

Vì sao "cụ rùa" đền Ngọc Sơn chết?

"Ngày tạ thế" của "cụ rùa đền Ngọc Sơn" được chính thức ghi nhận vào 02/6/1967 - thời điểm buổi trưa định mệnh. Địa điểm nơi cụ rùa nổi lên gần nhà Thủy Tạ bây giờ.

Giai đoạn đó miền Bắc đang trong thời điểm trực chiến với những trận dội bom oanh tạc của đế quốc Mỹ. Cả Hà Nội trở thành một pháo đài và kẻng báo động cùng lực lượng an ninh luôn ở tư thế chiến đấu 24/24 để đề phòng bất cứ những đợt dội bom bất ngờ không báo trước của đế quốc Mỹ.

Hàng triệu lượt khách du lịch đã dừng chân tại đền Ngọc Sơn để chiêm vọng cụ rùa đã được giữ tiêu bản ngót nửa thế kỷ tại đây - Ảnh: Kiên Trung

More...

Lybia: Người biểu tình khai hỏa nhà Quốc hội tổng thống bỏ chạy

By NGÔ MINH

Lybia: Người biểu tình khai hỏa nhà Quốc hội tổng thống bỏ chạy

Thứ hai 21/02/2011


 Hôm nay 21/2 tòa nhà Quốc hội và Đài truyền hình trung ương ở thủ đô Lybia đã bốc cháy khi cuộc biểu tình bước sang ngày thứ 7.

Những người biểu tình đã khai hỏa tòa nhà Quốc hội - nơi diễn ra Đại hội đảng và các cuộc họp Quốc hội đập phá các trụ sở đài truyền hình trung ương ở thành phố Tripoli.

Các cuộc đụng độ giữa những người biểu tình chống chính phủ và lực lượng an ninh đã nổ ra sau khi con trai Tổng thống Muammar Gadhafi tuyên bố trên truyền hình rằng: "Quân đội sẽ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng".

Cuộc biểu tình bước sang ngày thứ 7 ở Lybia khiến gần 200 người thiệt mạng và nhiều người khác bị thương. Theo một số nguồn tin chưa chính thức Tổng thống Muammar Gadhafi đã bỏ chạy khỏi Lybia để lánh nạn.   Trong một diễn biến liên quan khác các ngoại trưởng EU dự kiến sẽ nhóm họp tại Brussels vào ngày mai để thảo luận về các vấn đề liên quan đến những bất ổn hiện tại ở Lybia.  
Linh Chi Theo Jerusalem Post
( Nguồn : basam.info)

More...

BÀI HỌC TỪ CUỘC XUỐNG ĐƯỜNG Ở TUNISIA VÀ EGYPT

By NGÔ MINH

 


            BÀI HỌC TỪ CUỘC XUỐNG ĐƯỜNG  Ở TUNISIA VÀ EGYPT


Bạn đọc thân mến. "Cuộc cách mang Hoa Lài" từ Tuynisia và Egypt ( AiCập) đã lan đến nhiều nước ở châu Phi và cả Châu Á. Ở 2 thành phố Bắc Kinh Thương Hải Trung Quốc hôm qua ngày 20/2/2011 đã có nhiều người " xuống đường" bị bắt. Nguyên nhân nào dẫn đến các sự kiện bất ngờ trên ? Bài viết sau đây lý giải phần nào  nguyên nhân  các sự kiện trên. Ông Nguyễn Minh Cần tác giả bài viết là cựu Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân tp. Hà Nội. Năm 1957 ông và vợ sang Nga (LB Xô Viết cũ ) công tác và đã xin ở lại định cư tại Nga . Bài viết gồm 10 bài học nhưng do dung lượng và mục đích trang mạng chúng tôi xin lược trích những điểm chính. Mong tác giả thông cảm

           Tiếp theo sự sụp đổ của "triều đại" tổng thống Ben Ali ở Tunisia hôm thứ sáu ngày 14.01.2011 thì ngày 11.02.2011 thế giới lại được chứng kiến sự sụp đổ của "triều đại" tổng thống Hosni Mubarak ở Egypt sau 18 ngày đấu tranh cực kỳ gay go của hàng triệu quần chúng cách mạng trên khắp đất nước đặc biệt là trên quảng trường Tahrir ở thủ đô Cairo.

More...