GIỚI THIỆU TẬP THƠ "HUYỀN THOẠI CỬA TÙNG"

 

Bạn đọc kinh mến. Như đã thông tin tập thơ  HUYỀN THOẠI CỬA TÙNG của Ngô Minh đã được giải  thưởng Cố đô lần thứ 4.
Để bạn đọc hiểu thêm về tập thơ QUÀ TẶNG XỨ MƯA XIN giới thiệu bài viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường và chum thơ trích từ tập thơ.
 
"THẾ GIỚI TÌM THẤY" TRONG TẬP THƠ

  "HUYỀN THOẠI CỬA TÙNG" CỦA NGÔ MINH*

      HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

           
          Kể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985) Huyền thoại Cửa Tùng là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi cùng với thơ 20 năm và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ giữ lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do qúa nghèo đói hoặc do đã giàu có lên đều đã phải từ giã nghề làm thơ. Vậy thì Ngô Minh đâu còn là "một nhà thơ trẻ có triển vọng" để cần toi viết đôi lời giới thiệu với độc giả? Thế nhưng xin thú nhận rằng tôi đã thật sự xúc động và vui mừng xiết bao khi được Ngô Minh ngỏ ý muốn nhường cho tôi bày tỏ đôi lời gọi là trước bạn bè quen biết về tập thơ thứ mười này. Vì một lẽ đơn giản nhưng hiếm có rằng đây là một tập thơ thuần tuý dành cho Quảng Trị mảnh đất nhau rốn của tôi và cũng là đất quê ngoại của Ngô Minh hơn nữa là mảnh đất chiến trường nóng bỏng của cả hai chúng tôi.

            Gần ba mươi năm chiến tranh đã đi qua nhưng không hiểu sao sự vật đối với tôi lại gần gũi thế và những kỷ niệm đối với tôi vẫn nóng bỏng thế tươi mới như không thuộc về quá khứ và trĩu nặng tâm hồn như một cái gì thuộc về vĩnh cửu.

            Ở những người đã đi qua kháng chiến như chúng tôi hình như đã hình thành một con người cảm nghĩ riêng để xúc động dễ dàng đối với những cái tưởng như phù phiếm đối với chuyện cơm gạo áo tiền của ngày hôm nay.Quảng Trị đối với hai chúng tôi là một mảnh "đất thánh" như vậy của đời người hoặc nói quá đi một chút là nguồn suối trường tồn của văn học.

            Nhưng vào thời kỳ tôi có mặt ở đó mặt đất Quảng Trị như không còn gì chỉ còn những dáng người đi lênh khênh ở chân trời. Dưới tác dụng của một cuộc chiến quá dữ dằn mảnh đất quê tôi đã chết theo kiểu một kẻ bị ám sát; đến nỗi ngay ngày đầu của cuộc chiến tôi đã trở lại tìm làng tôi trong một đám cỏ dại mịt mù. Tôi cứ ngơ ngác nhìn bốn phía xem làng tôi ở đâu; nào ngờ trong cỏ dưới hai bàn chân tôi là hai chữ "Hoàng tộc" của chiếc cổng gạch tôi vẫn ngồi chơi những ngày thơ ấu.Thú thật là không có nơi nào trên trái đất đã khiến tôi thèm gọi một tên làng như ở Quảng Trị vì ở đấy không còn tồn tại bất cứ dấu vết nào của những ngôi làng xanh biếc ngày xưa; tất cả đã lặn chìm dưới mặt đất. Về Quảng Trị trong những ngày tháng bây giờ người ta gặp nhiều những nắng gió cát sóng biển cơn khát và những ngôi mộ gió với những nén nhang  đỏ bập bùng trong đêm tối để dành tưởng nhớ những người đi không về; cũng đầy những ngôi nhà không bao giờ đóng cửa như đang chờ một ai đó bước vào ngõ. Ngô Minh đã bắt gặp những "vật ngoài hành tinh" ấy bằng kinh nghiệm đau đớn của một người lính và bằng độ nhạy cảm của một nhà thơ. Anh không ngớt nhớ lại những đồng đội Quảng Trị đã nằm xuống trong lòng đất Miền Đông Nam Bộ ngửi thấy hơi hướm quen thân của bạn bè trong mùi áo lính sau những đêm ngủ hầm nắm úp thìa vào nhau trong vẻ "quê mùa" chất phác của giọng nói :"Ai ngờ dưới tro những câu chuyện trạng-lại lên xanh lấp lánh mắt cười". Tính tình của Ngô Minh tôi biết quá rất là chân chất khí khái giống như đúc những điều anh kể trong "thế giới" Quảng Trị của anh.

             Tôi còn nhớ một tập tuyển thi văn của Quảng Trị có tên là "Đất kim cương". Tôi cho rằng đó là một cái tên khái quát rất giỏi; và nghĩ rằng nếu đào lên ta sẽ gặp trong lòng đất không phải là vàng mà là kim cương. Qủa thật không nơi đâu mà những con người "chân quê" đã biết sống bản chất đến như vậy.

            Vì lẽ đó tập thơ này của Ngô Minh cuốn hút tôi không ngờ thức dậy trong tôi những suy tưởng hầu như không còn mấy ai nghĩ tới nữa giữa thế giới thị trường bây giờ. Xin chân thành cảm ơn nhà thơ đã một lần thổ lộ với toi những bí mật tận đáy lòng trên những trang sách đầy ắp "chất Quảng Trị" này.

                                                                   Huế 22/7

                                                                  

CHÙM THƠ TRÍCH :
 

 

                                       ĐỌC UYTMAN

                           BÊN BỜ ĐÁ CỬA TÙNG

tôi gặp người chiều Cửa Tùng gió trở

đá lấp lánh khối đen

hay bóng một thời

Uytman ơi (*)

sông  Hiền Lương lại xanh mềm lá cỏ

vết chém Hiền Lương trái đất chưa nguôi

 câu hỏi lớn biển dập dồn hỏi đá

HỠI TỰ DO CHO MỖI ĐỜI NGƯỜI !

lửa chiến tranh như đã tắt rồi

bài hát yêu nhau gió hát bên đồi

cánh đồng Vĩnh Quang chiều qua bom còn nổ

những quả bom mai phục cỏ tươi

ở chỗ tận cùng

và đâu đây ngay cạnh chúng tôi

câu hỏi lớn biển dập dồn hỏi đá

bọt sóng tung trắng chỗ tôi ngồi

tôi thầm hát những bài hát cũ

có hai người yêu nhau thân mật mỉn cười

hai người yêu nhau vô tư như chân trời

tay vốc cát xây ngôi nhà nhỏ

bỗng chạm mảnh bom

một ngón tay chàng trai máu ứa

anh giơ lên như lá cỏ bên đồi

môi cô gái run run đặt lên ngọn cỏ

chiếc hôn đầu của tuổi lứa đôi

sự sống là thế đấy Uytman ơi

lửa chiến tranh như đã tắt rồi

những lính Mỹ đã về nước Mỹ

vượt trăm năm và nghìn dặm biển trời

câu thơ Người đi bộ đến cùng tôi

câu hỏi lớn biển dập dồn hỏi đá

tôi nghe Uytman từ trong đất trả lời

 

--------------

(*): Uytman: Đai thi hào nước Mỹ với tập thơ nổi tiếng " Lá Cỏ"


                                      


                               HUYỀN THOẠI CỬA TÙNG

          
                                                   MỘ BIỂN

 1      

                         

 Khuya nay trăng tỏ mờ Hoà Lý

 Làng có ngủ đâu.

 Làng cũng thức như trăng

          Sóng biển Cửa Tùng vỗ vào đêm âm vang như gõ vào tang trống gõ vào cõi hư vô nhức nhối lòng người gõ liên hồi từng đợt từng đợt như lay gọi như thúc hối điều chi

Tiếng sóng không  vọng lên từ biển mà vong từ muôn tầng đất từ tâm thức con người  ba mươi  năm sau cuộc chiến là tôi về gối đầu lên ngổn ngang ký ức ngay nơi rốn của lịch sử đất nước đời mình;

Ôi mõ sóng !

Mạ ba mươi lăm năm mõ nồm mõ bấc thảng thốt choàng dậy trong khuya lắng bước cha về; đánh diêm thắp ba nén nhang vái lạy bốn phương tìm hình bóng cũ. Rồi mạ ôm gối chăn ngăn dòng nước mắt như ngăn cơn lũ thời gian đang cuốn đi giấc mơ goá phụ...

Ba mươi lăm năm cha thành nấm cát nằm nơi khuất lấp biển bờ

Sông Tuyến bây giờ hoang vắng quá

bao giờ trang sử thành thơ?

2

Quê hương ơi

Cửa Tùng Vĩnh Quang Cát Sơn Thuỷ Bạn

gió lạnh bên này bên ấy tìm chăn 

dòng sông hẹp chỉ còn bước nhảy

người tìm sang và cát tìm sang

hai mươi năm sông thành máu chảy

biển lập loè lửa nhang sám hối

3

Cửa nhà bạn thơ Lê Bỉnh để ngỏ. Làng biển Hoà Lý thật lạ lùng tất cả các ngôi nhà tranh ở đây đều mở cửa suốt  đêm ngày

Cứ như họ đêm ngày dang tay đón biển

Cứ như họ đang chờ ai đó !

Cứ như họ chẳng có gì để mất!

Mà thế thật! Thứ mà kẻ thù mấy chục năm ròng muốn cướp đi của họ là Tự Do là Biển là Dòng Sông thì chúng đã không thể cướp ; Thứ quý giá nhất người Vĩnh Quang Cửa Tùng Cát Sơn Thuỷ Bạn không bao giờ muốn mất thì họ đã vĩnh viễn mất đi dưới móng vuốt chiến tranh ! Hàng ngàn những người cha người mẹ người anh người chị người con người em thân yêu không bao giờ về nữa. Bàn thờ Hoà Lý Vĩnh Quang đêm ngày nghi ngút khói nhang.

Tôi lần ra phía bờ đất đỏ ngồi lặng ngắm biển đêm  với một tâm trạng nửa như kẻ lữ hành lạc tới xứ sở huyền bí nửa lại như người đang tìm về miền Đất Thánh để hồi tưởng để sám hối để cật vấn lương tâm với câu hỏi như gió gào trên  ghềnh đá

Anh là ai?

Anh là ai?

Anh là ai ?

Khuya. Từ phía những cồn cỏ chông mé biển mắt tôi như bị thôi miên bởi hàng chục những đốm lửa nhỏ ai vừa đốt lên thành từng hàng trước biển. Những đốm lửa lập loè ngả nghiêng trong gió trước sóng gào như mắt chớp khôn nguôi.

Những ánh mắt tắt đỏ đêm Cửa Tùng như những linh hồn ấy cứ hút tôi tới gần ma ám.

Ôi biển ơi cát ơi

 Người không ngủ những đốm lửa cháy từ bao giờ...

4

Ồ những nấm mộ biển những chùm hoa muống biển và những que nhang...

Trong khuya khoắt hoang lạnh một người đàn bà đầu chít khăn tang  đang quỳ chấp tay lầm rầm khấn vái bên một nấm mộ vô danh. Chị quỳ một mình lặng im như tượng đá. Chị không mảy may tỏ ra hoảng hốt khi trong đêm khuya có một gã đàn ông đang đến rất  gần;

Chị lặng lẽ thắp thêm một tuần nhang nữa cắm trên những ngôi mộ như những nấm cát trắng nhỏ nhoi. Đợi chị cắm xong nén nhang cuối cùng tôi mới dò hỏi:"dạ thưa... đây là phần mộ những ai? Và câu chuyện của người đàn bà không quen biết đêm Cửa Tùng ấy ám ảnh tôi đến nỗi mỗi lần nhìn thấy cái gì màu đỏ nhấp nháy phập phồng là lập tức tôi nhớ về những ngôi mộ biển và những linh hồn đang cháy trong đêm...

Mỗi lần như thế tất cả hiện tại quá khứ trong tôi bỗng nhòe đi sôi sùng sục xoay tít vút lên thành cơn dông hình nấm. Sau cùng đốm lửa hoá miệng ngọn núi lửa hun hút cuốn tôi vào xoáy mãi cho đến khi thành những câu thơ rần rần ngày biển động

Người đàn bà kể rằng từ những năm sáu bảy sáu tám cho tới khi giặc Mỹ ngừng hẳn ném bom miền Bắc tất cả ngư dân vùng biển Vĩnh Linh ban ngày bắn máy bay đánh taù chiến giặc bảo vệ làng xã; ban đêm họ lại đẩy thuyền ra biển vận tải tiếp tế súng đạn lương thực thuốc men quần áo gạo cơm và cả những bài hát ra đảo Cồn Cỏ phục vụ chiến sĩ ta đánh giặc.

Thuyền vận tải là loại thuyền vỏ trấu huyền thoại được đóng bằng gỗ như thuyền đánh cá của ngư dân chèo bằng tay. Mỗi thuyền tám hoặc mười tay chèo tay súng. Đảo Cồn Cỏ là trái tim biển. Để cô lập Cồn Cỏ anh hùng giặc Mỹ thường xuyên đánh phá ngăn chặn con đường tiếp tế dân gian bền bỉ này. Nhiều ngư dân là thanh niên các thôn bờ bắc Cửa Tùng và các xã Vĩnh Thái Vĩnh Giang Vĩnh Kim Vĩnh Thạch...đêm đêm đóng khố Thạch Sanh đưa con thuyền như niêu cơm đầy ắp tin yêu ra đảo. Nhiều người trong số họ đã anh dũng hy sinh trên đường ra đảo hoặc từ đảo trở về nhiều người họ bị địch bắt bị mất tích vì thuyền chìm...tất cả họ đã trở thành muối mặn thành gió nắng Cửa Tùng...

Mạ tôi kể rằng tôi có người anh họ ngoại tên là Toán chưa học xong cấp ba đã xung phong "ra đảo" vào một đêm cuối năm. Và anh không bao giờ trở về

Anh tôi không có mộ

Mộ anh tôi là biển và bờ

Mộ anh tôi mang hình Đảo Cỏ

Cứ giáp Tết Nguyên Đán hàng năm ngày giỗ anh cả nhà mang mâm cỗ ra biển cúng. Cỗ cúng có xôi gà bánh trái có cả vàng mã riêng áo giấy phải thật nhiều vì sợ anh ở trong biển lạnh!

Sau những đêm cúng mộ biển ấy tôi nghe thấy anh Toán của tôi đang về

Tiếng anh cười vỡ oà ngọn sóng

Anh hát vang bài ca thời anh

Bên ven bờ Hiền Lương chiều nay ra đứng trông về ...

 

Người già kể rằng sáu ngôi mộ vô danh ở mé biển Cửa Tùng ấy chỉ là những ngôi mộ tượng trưng chẳng có bất cứ tuổi tên nào cả. Dân Vĩnh Quang Hoà Lý đắp những nấm mộ gió ấy hướng về Cồn Cỏ để đời đời tưởng nhớ những đứa con Vĩnh Linh "ra Đảo" không về. Nhưng đó là tất cả những tên tuổi đã làm nên con đường huyền thoại nối Cồn Cỏ với đất Mẹ một thời.

 

Biển mới là nấm mộ vĩnh cửu của họ.Và tên tuổi hình bóng của họ là xa kia đảo nhỏ anh hùng!

 

Người đàn bà quỳ thắp nén nhang khấn vái bên những ngôi mộ trong khuya Cửa Tùng ấy chính là vợ của một người lính Vĩnh Linh ra đảo không về. Nhưng với chị anh ấy không chết. Mấy chục năm nay chưa hề có ai mang đến cho chị cái "giấy báo tử"! Không có ai. Biển đêm vẫn rì rào bí ẩn và lấp lánh như ánh mắt anh cười lúc vác mái chèo tạm biệt  vợ con. Biển không hề thiêú vắng điều gì vẫn mặn vẫn sâu trong ký ức của chị.

 Ra với biển là đến với anh

Ra với biển là đến với tình yêu nồng mặn

thắp nhang cho anh thắp nhang cầu nguyện biển

biển ơi biển mãi ắp đầy...

 5

 Cồn Cỏ ơi Cồn Cỏ đêm nay

Đảo như những linh hồn tình yêu bốc cháy!

 

Đảo thân thiết thế nên suốt ba mươi năm nay đêm nào chị cũng ra ngồi một mình trước những ngôi mộ biển đốt lên những cây nhang và nhận từ những nấm cát bạc phơ bao niềm an ủi.

Rồi chị nhìn ra Đảo xa.

 

Đêm Đảo như đang tiến vào bờ

Mùi rêu đá hay mùi tóc nồng mặn biển khơi của anh đang thấm vào làn da goá phụ...

Biển xanh màu khói nhang...

 

 

 

  MẮT GIÓ

1

 

Trời ơi gió

Gió lật tung thật giả đất này

Em áo váy phấn son õng ẹo

Anh đỏ mặt trước Cửa Tùng chân chất       

 trước Cửa Tùng huyền thoại linh thiêng

 Trên mũi đất đỏ au làng Hoà Lý còn sót một cây dừa không tuổi. Cây dừa mồ côi lớn hơn tuổi chiến tranh. Những vết đạn bom nham nhở thân dừa cứ đăm đắm nhìn tôi như huyệt mắt. Những con mắt khô khát thời gian đợi chờ của đất. Mắt như thật sự trừng trừng!

 

Cửa Tùng cõi Thừa Lương xưa Vua ngự . Bây giờ gió thao thiết bởi dừa không còn đủ lá cho gió lật gió reo. Cây dừa mang nắng chiều nhoài ra biển nhoài ra bờ đá vồ vập sóng yêu; lá dừa như vẫy như chia gió cho những con thuyền lao ra cửa sóng. Buổi sáng dừa ngả bóng dài như vươn sức chở che tấm bia địa đạo Xóm Cửa hun hút gió buồn.

 

Những con mắt khô trên thân dừa lằn sẹo bỗng ngân ngấn nước kể cùng tháng năm về cửa gió oan hồn.

 

 2

Xóm Cửa An Đức ngày Hai sáu tháng Sáu một ngàn chín trăm Sáu bảy một vết thương cắm vào Đất Tuyến: cả làng Tân Lý trong lòng đất bom vùi!

 

Hai mươi thước sâu sáu mươi mốt mạng người già trẻ gái trai hai bờ Hiền Lương ruột thịt chớp mắt thành một nấm mồ chung bốn cửa địa đạo bịt bùng. Ba mươi hai năm sau tôi còn nghe tiếng kêu gào vọng lên trời mỗi đêm về sáng.

 

Còn nghe u hồn thiêng hiện bảy sắc cầu vồng vắt ngang biển thẳm

Còn nghe cát bầm hoen dưới gót chân người .

Cát như muốn lấn lấp cửa sông để giữ muôn đời nỗi đau Xóm Cửa

 

 

 

Bốn cửa địa đạo Tân Lý nhìn biển nhìn trời thành bôïn cửa bão thổi dọc đời ta thổi dọc thời gian thổi buốt muôn sau Đồi Sáu Mốt

Đất Cửa Tùng bao nhiêu huyền thoại ?

Tân Mỹ Bình Minh Xóm Rú Vịnh Mốc Mụ Giai. ..

Những ngôi làng không còn trên mặt đất

 

 

Em ơi em

Dưới chân ta cũng Làng- mấy tầng đêm

Một thế hệ Vĩnh Linh sinh ra ở đó

Tiếng khóc nghẹn vách hầm đất lở

Khát một mảnh trời khát một bóng cây

              

Làng mặt đất hôm nay một nửa trẻ già

Một nửa bà con còn trong lòng đất

Cửa địa đạo thẳm sâu đôi mắt 

Gió như niềm thao thức gọi tên

3

 Mắt gió nhìn ta sau trước thời gian

Nhắc mỗi việc làm  lay từng ý nghĩ

Ôi mắt làng khát trời khát bể

Sao ta chỉ là du khách viếng thăm ...!

4

Trời ơi gió

Gió trắng vành tang cửa sông màu sóng

Gió thổi bùng ngọn lửa nén nhang tôi thắp như lời phát nguyện

Không thể sống ớn hèn

Mắt hãy mở ngang tầm gió nóng

Đi tìm lại chính mình

Tìm vóc dáng Vĩnh Linh những ngày đánh Mỹ

Những ngày Hiền Lương những ngày Cồn Cỏ

Đi tìm lại tình yêu như lửa
               

Nguồn đất sâu sinh ngọn gió mát lành

5

Đêm Mũi Si

Tôi gọi biển như trẻ thơ gọi mẹ

Âm âm mắt gió vọng lời

Ai ví Mũi Si con tàu trên đỉnh sóng

Tôi như con bò gặm nắng nhìn khơi

Mũi Si mũi Tàu Mũi Gió

Chiếc lá triệu năm thớ đá còn nguyên

Cây dương trăm năm u sần vết đạn

Bên hố bom ngọn gió uốn cong

Cửa Gió mở vào biển mặn

Ta lần theo lòng đá lạnh lùng

Sáo xây tổ cheo leo vách nắng

Ngước lên sóng hát lưng trời

Con cua đá đỏ mắt nhìn người

Chợt rưng rưng bông hoa tứ quý

Nở hiền lành như giọt mực rơi

Mũi Si huyền thoại không lời

Năm tháng cũ đúc bong tàu nắng chói

Mũi Si thì cũng si tình (*)

Câu thơ bạn ướt đầm mắt gió

6

Con về bến Vĩnh Giang tìm mạ. Năm một chín bảy ba Võ Văn Đảm bạn con  đứa con trai mạ từng bao năm nhớ bầm gan ruột trước lúc nằm xuống đất Gia Nghiã miền Đông khóc gọi mạ bao lần. Đảm xót xa suốt thời thơ trẻ bên sông mà chưa một lần qua cầu Hiền Lương bảy sắc. Bây giờ mẹ như gió nắm tay con.

Đảm ơi

Con chiến trường xa mạ chiến trường gần

Một tấc Hiền Lương ngàn cây số lửa

Ngôi nhà tranh đêm ngày mở cửa

Mạ nhai trầu kể chuyện Đảm tuổi thơ

Mắt mạ bom mờ không còn nhìn thấy nhưng mạ vẫn ngước nhìn ra bờ sông nơi một thời mạ với con đò nhỏ nối đôi bờ tình yêu và lòng xứ sở. Bây giờ hai hốc mắt mạ như hai lỗ đen vũ trụ bỗng ứa ra hai giọt kim cương

Mạ chớp mắt cười lòng con gió nổi

Trên bàn thờ nghi ngút khói nhang tấm ảnh Đảm con trai mạ thời sinh viên Hà Nội trẻ trung đôi mắt thăm thẳm chân trời nơi đêm đêm gửi gió về với mạ.

7

Đảm ơi

Trái đất này nhỏ quá

Nhỏ đến nỗi con sông quên mình mềm như lá lúa

Bỗng thành giới tuyến lòng người

Thành lưỡi dao cắt chia xứ sở

Và chiều nay bao nhiêu là gió

Râm ran huyền thoại  đất này

Du khách thập phương xôn xao ngồi đứng

Lịch sử nở sinh từ lòng Vịnh Mốc

Cửa vào huyệt đất không khép bao giờ

Còn những ai chưa đến

 

Xin mời...

 

8

Gió vẫn thổi cồn cào gan ruột

Mỗi bước đi nghe gió gọi tên

Tôi hành hương tìm mình phía nắng

Cửa Tùng ơi

Cửa Tùng ơi

 Huyền thoại trái tim....

 

Cửa Tùng - Cửa Lò 1982- 2006

------------------------

 (*) ; Câu thơ Nguyễn Khắc Thạch                                        

 

Ngô Minh

Gửi Huy Tập

Tối qua NM cũng xem một phần chơưng trình Hoàng Vân trong sdsó có bài hát phổ thơ của thầy giáo Ngô Minh Mỹ Dạ Hải Kỳ ... là Hà Nhật : Nhổ neo ra khơi đêm này khi trăng mọc...Nhạc HV hay có chiều sâu.
Chúc HT khoẻ.

Huy Tập

Gửi Ngô Minh

Đọc những lời giới thiệu của Hoàng PN Tường với tập tơ Huyền thoại Cửa Tùng ta thấy thêm xúc động làm cho thơ thêm hay. Đêm qua TV3 TH TT Con đường âm nhạc của NS Hoàng Vân cực hay phải nói HV là 1 tên tuổi âm nhạc lớn Việt Nam ông lớn hơn bởi ông rất khiêm nhường ngại nói về mình ông đánh bóng quảng bá ông bằng chính sự tài năng và sự khiêm nhường. Đây đích thực là Văn hóa cao.Ngô Minh có những người như anh Tường giới thiệu thì quả làg xứng đáng và quý trọng . Chúc mừng lần nữa nhé.

Ngô Minh

Cám ơn Khải Nguyên

Rất cảm ơn Khải Nguyên đã chia sẻ. Chúc năm mới nhiều niềm vui.

Khải Nguyên

.
KN xin chúc mừng nhà thơ Ngô Minh đã giành được giải C - Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ IV (2003-2008) với tập thơ HUYỀN THOẠI CỬA TÙNG. Rất xứng đáng vì với KN: trong đó có bài thơ ĐỌC UYTMAN BÊN BỜ ĐÁ CỬA TÙNG mà KN rất thích:
.
có hai người yêu nhau thân mật mỉm cười
hai người yêu nhau vô tư như chân trời
tay vốc cát xây ngôi nhà nhỏ
bỗng chạm mảnh bom
.
một ngón tay chàng trai máu ứa
anh giơ lên như lá cỏ bên đồi
môi cô gái run run đặt lên ngọn cỏ
chiếc hôn đầu của tuổi lứa đôi

.
Xin chúc mừng nhà thơ! 4 lần xét giải đều có tác phẩm đoạt giải quả là đáng quý. Hy vọng lần thứ 5 nhà nghiên cứu NM sẽ có tác phẩm đạt giải với thể loại: nghiên cứu DSVH Huế!