NHÀ THƠ HOÀNG CÁT – THƯƠNG BINH VỈA HÈ

60 năm ngày Thương binh liệt sĩ ( 27-7)

NHÀ THƠ HOÀNG CÁT – THƯƠNG BINH VỈA HÈ

Ngô Minh    

hc1.  
       
Trái tim tôi là một nấm mồ

 Tôi chôn cất mẹ tôi bị bom tàn sát

  Tôi chôn cất em trai tôi- không thấy xác

                                   Trên chiến trường phía Nam…

               Hình tượng thơ Trái tim tôi là một nấm mồ của nhà thơ thương binh Hoàng Cát là một trong  những hình tượng thơ lộng lẫy nhất viết về Thương binh -Liệt sĩ. Hoàng Cát nhập ngũ  ngày 5-7-1965 trực tiếp chiến đầu  ở chiến trường Trị Thiên Huế đến năm 1969 . Anh bị thương mất một chân. Có lăn lộn chiến trường mới thấu hiểu tấm lòng đồng đội.  Tôi đã chôn biết bao nhiêu bè bạn / Giữa trái tim tôi giữa tuổi trẻ đời tôi /  Khải Bí Xin Dành Quyện An…/ Không nhớ hết  từng người…Có lẽ vì nỗi niềm ấy  mà từ ngày giải phóng miền Nam đến nay Hoàng Cát vẫn thường xuyên về “thăm lại chiến trường xưa” thăm  vùng tâm linh thăm thẳm của đời mình dù cuộc đời anh có quá nhiều tai ương khốn khổ. Năm 1971 anh trở lại hậu phương miền Bắc với một chân quân hàm thượng sĩ thương binh loại A viết văn làm thơ ca ngợi đất nước. Cái truyện ngắn thiếu nhi “Cây táo ông Lành  của anh đăng trên báo Văn nghệ năm 1974 hồn nhiên hiền lành nhân bản là thế chỉ vì mấy bài phê bình chụp mũ suy diễn    của vài người cực đoan một thời trên vài tờ báo… đã biến thành  “vụ án”.  Cái “án” không thành án ấy đã  trở thành cái gông oan nghiệt đeo vào cổ nhà thơ thương binh ấy suốt  15 năm qua. Nó đã và đang gây nên hệ luỵ trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của nhà văn và cả gia đình anh suốt mấy chục năm ròng.   Anh bị hất ra vỉa hè về mất sức lao động khi đang sung sức .  Không việc làm không đồng lương thương binh không bảo hiểm xã hội chỉ còn trần xì một khoản trợ cấp mất sức lao động nhỏ nhoi 620 ngàn đồng ( sau nhiều lần tăng đi tăng lại) giữa cái Thủ đô vô cùng đắt đỏ ấy…

             Không có văn bản quyết định nào nhưng mặc nhiên Hoàng Cát bị “treo bút”. Từ 1974 không có báo nào dám đăng thơ truyện ký hay bất cứ bài gì của anh. Anh lê lết cái chân giả cùng vợ đi kiếm sống từng ngày để nuôi con ăn học  bằng như con người qua mười mấy nghề vỉa hè cơ cực ? Trong một bài thơ tặng vợ nhân kỷ niệm  17 năm ngày cưới Hoàng Cát có câu thơ giản dị mà  cay đắng : Mười bảy năm ta chưa đi đến Nhà Hát lớn / Nhưng đã trải qua  mười bảy nghề mặn nhạt có nhau…

            Đầu tháng 7 rồi nhà thơ Hoàng Cát lại về với “trái tim nghĩa trang liệt sĩ” của mình về đất Thừa Thiên Huế chiến trường xưa. Anh rủ tôi đi cùng anh về Phú Lộc Phong Điền Quảng Điền để thăm lại chiến trường cũ thăm lại những đồng chí những bà mẹ những người chị người em cơ sở đã nuôi anh trong hầm bí mật  mùa hè năm 1967. Lúc đó anh không phải là cán bộ cốt cán gì . Đơn giản anh chỉ là một kỹ thuật viên quân giới được tín nhiệm. Vì trước khi tình nguyện vô bộ đội anh đã tốt nghiệp loại giỏi Trường Kỹ thuật Trung cao Cơ điện Hà Nội và đã hai năm làm cán bộ kỹ thuật ở Nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo. Vào bộ đội anh lại được học một lớp kỹ thuật quân giới rất bài bản. Hoàng Cát rất thành thạo việc tháo gỡ các loại bom mìn đạn pháo của địch chưa nổ giúp cho du kích các xã vùng sâu có thuộc nổ để chế tạo những quả mìn lựu đạn tự tạo để  có vũ khí chống địch càn…

           Nhà thơ  Hoàng Cát  nhấc bàn chân giả nặng nề từng bước mồ hôi thấm ướt lưng áo cùng anh Nam chị Đương ( đồng đội cũ ) trèo lên nghĩa trang huyện Phú Lộc. Nghĩa trang dựng ở trên đồi cao chót vót. Nắng tháng 6 miền Trung như dội lửa. Phải leo tới hơn trăm bậc tam cấp. Người lành lặn như tôi trèo cũng mồ hôi ròng ròng huống chi anh là thương binh chân giả. Phú Lộc là địa bàn tác chiến của Đoàn 4  do ông Chữ ( thiếu tướng đang nghỉ hưu tại Huế) làm Đoàn trưởng và ông Vững ( người Quảng Nam) làm Chính uỷ. Đó là một đơn vị chủ lực rất mạnh của Quân Khu Trị Thiên Huế. Bao nhiêu đồng đội của  họ đã ngã xuống nơi đây. Nên cao mấy họ vẫn trèo. Trèo lên để thắp cho đồng đội nén nhang tưởng niệm . Rồi anh về làng biển Cảnh Dương nơi Vũng Chân Mây lội cát thăm chị Mẹo một thương binh cũng cụt chân bên trái như anh. Đó là một nữ du kích Lộc Vĩnh đã bao năm cùng đơn vị anh chiến đấu cho đến ngày cả xã Lộc Vĩnh bị bom na-pan của Mỹ đốt cháy thành tro bụi  suốt mấy ngày đêm liền . Anh đi hăm hở như sắp về nhà.  

         

            Anh kể  một lần anh suýt chết ở vũng Chân Mây này sau Tết Mậu Thân năm 1968. Hồi  đó có một chiếc tàu hàng từ Sài Gòn ra bị mắc cạn. Chủ tàu đã bỏ  đi từ lâu.  Bộ đội ta  “trên Xanh” đang cần một động cơ cánh quạt để thổi bể lò rèn cho xưởng chế tạo vũ khí .  Hoàng Cát được đích danh Đoàn trưởng Chữ phân công bí mật bơi ra chiếc tàu mắc cạn trên biển để tìm gỡ cho bằng được một cái quạt gió lò rèn .  Anh đang mải mê với công việc tháo dỡ trên tàu thì bất thần  máy bay do thám L-19 của địch phát hiện ra   lượn sát mặt biển bắn đại liên như mưa xuống chiếc tàu mấy giờ liền. Như có Trời Đất phù hộ  không viên đạn nào trúng người lính chiến nhanh như rái cá ấy…

           Hôm sau  Hoàng Cát lại tiếp tục dẫn chúng tôi về vùng quê  phía  bắc Huế  như Phong Chương Quảng Thái Quảng Hoà Quảng Thuận…Đấy là  “quê ruột” của anh. Cứ vài năm anh lại vô thăm lại các làng Triều Đông Cao Xá Phù Lai…y như là về quê nội anh ở Phúc Chỉ xã Hùng Tiến Nam Đàn giỗ ông bà tiên tổ. Không đi lòng anh day dứt không yên. Anh về đây ở cả tháng bà con vẫn thương yêu đùm bọc. Con trai của ông Hồ Viết Sung cơ sở đã nuôi anh trong hầm bí mật ở làng Phù Lai ( bây giờ là Tân Xuân Lai) xã Quảng Thọ huyện Quảng Điền năm xưa nay đã có vợ con có nhà ở Huế. Lần nào Hoàng Cát  về cũng ở ngôi nhà bên Hồ Tịnh Tâm đó. Có khi cả tuần. Cả  bạn bè đi theo anh năm ba người gia đình vẫn dành cả tầng hai cho mọi người ăn ở thật thoải mái.  Hoàng Cát đã viết nhiều bút ký ca ngợi những làng quê nhưng người mẹ chiến sĩ năm xưa ấy. Anh viết báo đấu tranh cho bằng được   để có một con đường ô tô tử tế  về tận  làng quê Triều Dương căn cứ vùng sâu cũ. Anh đã dắt người nữ  thương binh  ra tận Hà Nội  đòi lại đất bị chính quyền xã quy hoạch cắt đi oan uổng. Cứ một chân nhúc nhắc đi về Hoàng Cát đã tự mình lặng lẽ làm được nhiều việc mà ta hay gọi là “Đền ơn đáp nghĩa”  .

             Mùa xuân năm 1967 Hoàng Cát được Tỉnh đội Thừa Thiên Huế biệt phái về “nằm vùng” ở đồng bằng hai huyện Phong - Quảng sáu bảy tháng ròng để giúp du kích các xã “vùng sâu” có vũ khí đánh giặc. Vì anh biết kỹ thuật tháo kíp đạn  bom mìn  để chế ra mìn lựu đạn đánh giặc. Gặp địch lùng sục các mẹ lại đẩy anh vào hầm bí mật phủ lá vườn lên trên. Dọc sông Bồ ở làng Phù Lai anh có cả hầm bí mật ở ngày giữa bui tre gai sát bờ sông. Lúc đụng sự nhảy xuống lủi vô là  “yên chí” thoát !...40 năm rồi kể từ ngày ấy ông Hồ Viết Sung  làng Phù Lai đã mất nhưng mẹ Thẻo Mẹ  Nghèn làng Triều Dương vẫn còn sống. Gặp lại anh các mẹ mừng khóc hết nước mắt. Có đi với anh mới thấm hết nghĩa tình đồng chí đồng bào. Trời ơi sao một thương binh cụt chân không đồng xu dính túi vẫn miệt mài đi cả ngàn cây số để đến với đồng đội đồng bào  trong lúc bao quan chức nhà cao cửa rộng một bước ngựa xe lại cứ dửng dưng như khô cứng trái tim…

 

        2.                     Ta cảm ơn cái vỉa hè bụi bặm

                                Đã nuôi ta năm tháng cơ hàn …(Cám ơn vỉa hè)

            Đọc những câu  thơ của Hoàng Cát trong tập thơ mới “Cám ơn vỉa hè” bạn bè văn nghệ cả nước đều ứa nước mắt .  Cảnh ngộ anh cơ cực quá đau đớn quá. Ròng rã ba chục năm liền anh bị ném ra vỉa hè bụi bặm không còn là một thương binh hạng nặng nữa. Những năm tháng ấy đã đọng thành thơ một thứ thơ như máu tươi ròng ròng nóng hổi. Gia vị đời ta chính là Cay Đắng ! /  Cay đắng dạy ta thương xót Cuộc Đời này . Vâng Cay Đắng cũng là  gia vị của miền Trung gian lao vất vả. Cay Đắng viết hoa. Có lúc anh ngồi thừ người : Nén hương này tôi thắp giỗ chân tôi…Sau vụ “Cây táo ông Lành” Hoàng Cát  không thể kiếm sống bằng nghề viết  được nữa. Trợ cấp thương binh bị cắt hai vợ chồng phải xoay xở dựa lưng vào cái vỉa hè  mà tồn tại. Người vợ ấy mang bao nhiêu thứ bệnh trong người nhưng đã “ Mình em nuôi cả chồng con- nuôi mình”.  Vợ chồng anh phải làm tới 17 nghề kiếm ăn ngoài nghề viết văn viết báo. Dán hộp đựng thuốc cho  ngành dược   cuốn thuốc lá điếu rồi đi bỏ cho các  quán nước; rang đậu phộng bán nước chè phong thuốc lào làm bống bì ( món làm bằng da lợn dùng cho món canh ngày )Tết làm nem chạo nuôi gà thịt công nghiệp úm gà con giống   nuôi chó ta chó Nhật nuôi chim vẹt cảnh làm lồng chim bán kem mút nuôi lợn.v.v.. Vì  thế sau này Hoàng Cát có những câu thơ đứt ruột : chén nước chè năm xu gói thuộc lào hào bạc / Cái kẹo vừng dỗ con nít đói cơm…/Ta cũng phải bán bán mua mua/ Nhưng chưa bao giờ lừa lọc.(Cám ơn vỉa hè).  Dán hộp đựng thuốc cho Công ty Dược không dễ chút nào. Nhờ quen  tay trong và giám đốc cái xưởng ấy cũng là một thương binh cụt chân tên là Thông nên  họ thương tình họ mới cho nhận về mà dán. Hai vợ chồng  Cát-Tâm nhiều đêm thức trắng để dán hàng mấy trăm cái hộp kịp sáng mai đủ hàng trả theo hợp đồng. Gian phòng  12 mét vuông chất đầy hộp giấy không còn chỗ mà nằm nữa. Đi lại trong nhà cũng phải lách nghiêng trong lúc chị Tâm mang bầu  đứa cơn đầu lòng cao vượt mặt. Sáng sớm ra anh thương binh Hoàng Cát  lại phải đeo chân giả vào đạp xe đạp thồ đống hộp giấy cao ngất ngưỡng trên phố đi nhập hàng giống như người Nghệ đi bán nồi đất. Đến trưa mới có chút mì khô vào bụng. Làm bống bì cũng phải thức khuya dậy sớm đi lò mổ và chạy rông khắp hàng chục cái chợ ở Hà Nội để lấy da lợn rồi rửa rồi cắt rồi phơi rồi cạo sạch lông . Cực nhọc nhất là khâu cạo thật sạch lông. Đứt tay chảy máu là chuyện cơm bữa. Hoàng Cát cứ lê lết cái chân giả cùng với người vợ bị bệnh bướu ba-dơ-đô biến chứng vào tim cung cúc làm ngày này qua ngày khác... Mình khổ đã đành con gái mới chục tuổi đầu cũng phải ngồi chợ bán hàng suốt ngày hè. Người có lương tâm cứ  nhìn cháu là rơi nước mắt. Con mười ba tuổi ngây thơ / Nghỉ hè ngồi chợ từ trưa tới chiều / Nắng ròng dội xuống nhà thiêu / Nón cời che mặt chẳng lều chẳng phên / Bụi đường xe gió thốc lên/ Mà con vẫn phải ngồi yên bán hàng ( Tha cho ba) .

            Cuộc bon chen kiếm ăn của gia đình Hoàng Cát  nơi cái vỉa hè ấy không khác gì một trận chiến : Và như thế là cuộc đời trần thế / Là tong teo sinh kế trằn lưng / Là vỉa hè/ Bến xe bãi chợ / Là chạy / Là xô / Là sợ hãi / Cuống cuồng…Vỉa hè khổ thế nhưng vỉa hè là cứu cánh cuối cùng của cuộc đời anh thương binh nhà thơ Hoàng Cát : Ôi!...Cảm tạ cái vỉa hè yêu dấu! / Nếu không có Mi- ta đã chết đói lâu rồi / Hoặc có thể trở thành thành ăn cắp./ Rồi vào tù đến mọt xác- Vỉa hè ơi!...(Cám ơn vỉa hè )

             Tôi đã cất công lục tìm lại  tờ báo Văn nghệ xưa mà không được đành phải nhờ bạn bè ở Hà Nội phô tô cho truyện ngắn và một số bài viết “đánh” Hoàng Cát trên báo thời ấy. Đọc đi đọc lại cái truyện ngắn Cây táo ông Lành khốn khổ ấy tôi không mảy may tìm ra một chút hơi hướng màu sắc gì của “nấm độc” “chống chế độ” cả chỉ thấy tha thiết tình yêu trẻ con nhân văn nhân bản.  Hòang Cát viết truyện ngắn này từ năm 1973. Câu chuyện tóm tắt như sau :

             Ông già tên là gì không ai biết .Vì tính ông hiên lành và yêu lũ trẻ nên lâu dần thành tên của ông gọi là ông Lành. Vườn ông rộng. Có nhiều cây ăn quả ông quý nhất là cây táo lai. Cạnh cây táo ông cất một gian nhà ba gian hai chái cho cậu con trai duy nhất khi lấy vợ ra ở riêng. Vợ ông chết vì bom tạo độ Mỹ mùa gặt năm 1967 vào đúng kỳ cây tao sai quả nhất. Nhưng rồi cậu Sửu con ông đi bộ đội đợt đầu tiên kể từ sau khi có lệnh hoà bình của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Sáng sáng lũ trẻ lớp Một thường đi tắt qua vườn ông để lượm táo chín trước khi tới lớp học.. Tíu tít như một đàn chim. Ông Lành rất vui từ khi có lũ trẻ vào vườn lượm táo . Chúng ném đất đá gạch ngói lên cây táo để táo rụng thật nhiều . Ông cũng chẳng la mắng chúng làm gì. Ông nhìn lũ trẻ mà ước ao một ngày mình có một đứa cháu nội. Nhưng rồi một buổi sáng một hòn đất  rơi trúng đầu ông. May mà hòn đất bở nên ông  không ngất xỉu. Thằng Thìn ném táo lỡ tay rối rít xin lỗi ông. Nhưng đau quá nên ông nóng nảy nén cây rựa xuống sân quát :” Ông ông cái con khỉ !...Hoảng quá thằng Thìn co dò bỏ chạy. Ra ngã ba cây bông gặp lũ bạn nó cản các bạn lại bảo : Cây táo ông Lành bây giờ có cái sọ dừa đen ngòm nó doạ tao “ ư hừm” sợ hết hồn. Thế là lũ trẻ  không đi tắt qua cây táo nữa. Có đứa hỏi : -Vậy làm sao mà tới lớp bây giờ ? Thắng Thìn 8 tuổi láu lĩnh :- Đây có phải là đường chính của chúng mình tới lớp đâu. Đường chính là đường to vòng quanh làng chứ. Đường qua  vườn ông Lành là đường tắt cho nhanh”. Từ ngày vắng lũ trẻ ông buồn ông Lành  ân hận. Ngày ngày ông chờ  mong lũ trẻ. Ông hái sắn táo chờ chúng nó. Một lần đứa trẻ tên Mùi thập thò vào vườn ông Lành xem con ma-đầu-lâu-đen có thật không. Ông Lành bảo với nó đó là cái tổ kiến đen ông nuôi để nó ăn loại sâu hại táo. Ông lấy sào chọc cho thằng Mùi xem. Kiến đen  xông ra  đầu sào.Thế là chuyện cây táo có ma-đầu lâu không còn nữa.  Ông gửi  táo để thắng Mùi mang đến cho bạn. Ông nhớ lũ trẻ đến nõi ông đã bê cả rổ táo đến lớp cho lũ trẻ ăn và   gặp cô giáo Hà để nói là trên cây táo không có ma –đầu- lâu nào hết . Ông còn đề nghị với cô giáo chuyển lũ trẻ về ngôi nhà của ông cạnh cây táo mà học vì nghe đâu lớp học chật cô giáo Hà định dời lớp sang một làng khác… Vừa thấy ông Lành từ xa lũ trẻ đã  ùa ra hò reo đón ông…”

             Một vài cây bút “phê bình” đã  cho rằng đây là tác phẩm “thuộc loại nấm độc nguy hiểm. Với lối viết theo kiểu “biểu tượng hai mặt” truyện này  gieo rắc hoài nghi trong quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng  ta gieo rắc tư tưởng chống lại đường lối cách mạng chống lại đường lối xã hội chủ nghĩa và nền chuyên chính vô sản của chúng ta. Mô tả cuộc sống heo hút tâm trang u buồn của một ông già người vợ chết vì bom người con trai độc nhất “vô bộ đội  kể từ sau khi có lệnh hoà bình” truyện này không những bộc lộ quan điểm sai lầm của chủ nghĩa nhân đạo tư sản trong vấn đề chiến tranh có tác dụng như một lời kêu gọi phản đối chiến tranh cách mạng.…Tác giả truyện ngắn này đưa ra hình ảnh cái đầu lâu khủng khiếp và nói về việc “từ bỏ con đường này đi theo con đường khác” là có dụng ý gì ?...Tác giả đe dọa “bỏ” con đường mà tác giả cho là “con đường tắt” để  để đi con đường khác ! Đó là  một sự thách thức chế độ ta…

         Trời đất đây không phải là phê bình văn học mà đây là  lối suy diễn đấu tố chụp mũ chính trị ác độc hoàn toàn trái ngược với những gì mà truyện ngắn Cây táo ông Lành mang lại cho tâm hồn người đọc . Với lối quy kết như thế thì bất cứ câu nói nào cũng có thành phản động. Ngay cả câu tha thiết nhất như :”Tôi yêu mẹ tôi lắm” hay ” Tôi yêu Đảng tôi lắm !” cũng sẽ bị suy diễn thành vô đạo như nhà văn Nguyễn Quang Lập đã có lần tiếu lâm ví dụ . Thực tình đây là một cách  “lập công” của những kẻ cơ hội. Ai cũng biết nhà thơ Tố Hữu là người lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước ta là người đứng đầu công tác tư tưởng của Đảng ta tên thật ông là Nguyến Kinh Thành thường gọi là Lành. Nhà thơ Tố Hữu cũng có một cây táo ở nơi ngôi nhà công vụ ở Hà Nội mà ông đã nói đến trong  thơ:” Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt”. Sự trùng hợp ngẫu nhiên đó là cái cớ để  bọn cơ hội vu vạ cho Hoàng Cát dùng "biểu tượng hai mặt". Quả thực ông Lành thương lũ trẻ trong truyện ngắn và nhà thơ Tố Hữu không giống nhau chút nào về hoàn cảnh sống. Còn nói lũ trẻ không đi đường tắt sang cây táo nữa mà đi đường chính vòng qua làng để đến trường là “từ bỏ con đường này đi theo con đường khác” thì thật phi lý hàm hồ.  Chúng ta là con người phải sống cho ra người. Yêu mến đối thoại để đi đến đồng thuận   không thể  vu vạ vô căn cứ cho người khác như thế được. Các “nhà phê bình” viết bài “đánh”  Cây táo ông Lành  thời ấy không biết bây giờ còn ai sống không ? Nếu ai đó còn sống đọc bài viết này cũng xin đừng vội nổi nóng. Mà các anh là kẻ đầu tiên phải chịu trách nhiệm trước sự khốn cùng của thương binh Hoàng Cát ! Chính  các anh đã bôi nhọ cuộc chiến đấu của dân tộc bằng cách phỉ báng và tước bỏ quyền lợi của một thương binh chống Mỹ hạng nặng ! Đó là tội ác ! Và tội ác ấy nhất định sẽ bị Trời Đất  và Nhân Dân anh minh  trừng trị !

          Chao ôi mà “nó” “nguy hiểm” “phản động” thật thì đấu tranh đối thoại làm cho ra lẽ rồi đưa ra toà xét xử luận tội rồi tuyên án bỏ tù cái anh công dân Hoàng Cát chứ sao lại cắt phăng chế độ dành cho một thương binh hạng nặng tàn phế què cụt như thế ? Rồi im lặng hơn ba chục năm ròng không một lời giải thích xin lỗi ? Chế độ thương binh là nhân dân trả cho phần xương máu của người đã hi sinh vì Tổ Quốc thiêng liêng thế sao dám tước đoạt ? Tạo sao Bộ Lao động –Thương Binh Xã hội biết mà không làm lại chế độ thương binh cho nhà thơ Hoàng Cát ? Tôi có đứa cháu cụt một tay ở chiến trường Cămpuchia mà được xếp loại thương binh ¼ hạng cao nhất có lương thương binh và lương người nuôi. Tại sao cụt hẳn chân bên trái chưa kể những thương tích khác sao  thương tật Hoàng Cát cũng chỉ loại bét lại không có  phụ cấp ? Tại sao Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam qua nhiều khoá vẫn không đề nghị cơ quan chức trách làm lại chế độ thương binh cho Hội viên nhà thơ thương binh Hoàng Cát ? Tại  sao ? Tại sao ? Bao nhiêu năm cứ mỗi lần anh Hoàng Cát thư từ điện thoại tôi  lại cứ tự trăn trở dằn vặt mình với những câu hỏi “tại sao” xót xa ấy. Nhà văn Trần Thị Thắng cũng tâm trạng như thế khi chị viết :”  Chúng tôi nợ Hoàng Cát quá nhiều nợ cả gia đình Hoàng Cát…” (Báo VN số 20 (15/5/07). Tôi xin nói rõ thêm : Đất nước này đang nợ Hoàng Cát ! Đất nước đang đổi mới hội nhập toàn diện với thế giới. Chúng ta phải trả lại  quyền lợi cho thương binh Hoàng Cát ! Bây giờ anh đã vào tuổi 66 năm 2005 anh bị  một cơn đột quỵ tưởng không qua được. May là nhà thơ của chúng ta đã hồi tỉnh lại. Cuộc đời ơi  “món nợ Hoàng Cát” phải thanh thoả ngay khi chưa quá muộn. Trong trái tim nhà thơ ấy không chỉ có mộ chí của bao đồng đội anh đã hy sinh mà còn có nấm mồ của niềm oan khuất khôn nguôi !

            3. Tháng Bảy nắng nôi tôi đi với anh  về thăm các làng quê đã cưu mang anh trong chiến tranh ở Phú Lộc Phong Quảng chuyện “ Cây táo…” lại tôi bức xúc trong tôi. Tôi cứ xoáy hỏi anh . Mặt anh thoáng buồn. Nhưng  rồi anh cười bảo:” Nhờ ơn Trời Đất phù hộ   mình vẫn sống  để hôm nay tuổi gần đất xa trời lại được đến cùng đồng đội cùng bà con cơ sở thế là mãn nguyện lắm rồi!”. Rồi anh đọc thơ :“Trải hết nỗi đau đời ta gặp đạo / Sang hèn sướng khổ- thảy như nhau”. Dường như anh đã đi đến tận cùng của lẽ mất - còn  rồi . Ngộ rồi ! Tôi cứ tìm cách nhắc lại hỏi anh về “chuyện cũ”. Anh buồn nhưng  lại bảo :” Thôi đừng nhắc lại chuyện ấy làm gì mình gần như không còn nhớ đến “nó” nữa !  Rồi anh đọc thơ :” Có than van cũng chẳng ích gì / Thì cứ sống coi như không thương tật / Cháy hết mình như que diêm rồi tắt / Còn hơn âm thầm làm khúc gỗ lặng im !” (Tự nói với mình).

             Nhưng rồi cũng có lúc anh rỉ rả tâm sự: “Mình là dân Nam Đàn xứ Nghệ “cách mạng ròng” lại là lính chiến trường vào sống ra chết làm sao “phản bội” ”chống chế độ”  được ! Chỉ một khát khao cháy bỏng sục sôi / Tổ Quốc thân yêu vẹn toàn thống nhất ( Không thể quên). Anh kể cái “vụ” Cây táo   ấy không có kiểm điểm gì hết . Cũng không có văn bản chỉ đạo gì của trên cả không có quyết định đuổi việc hay “thu hồi  chế độ thương binh” nào cả…Tất cả diễn ra âm thầm trong bóng tối. Chỉ sau vài bài “phán xét” trên báo của mấy ông lý luận phê bình vì sợ mang hoạ sau đó một thời gian nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo đã vội vàng lẳng lặng cho Hoàng Cát “về mất sức” như là một người tàn tật. Anh lúc đó là kỹ thuật viên bậc 4 của phòng KCS ( kiểm tra chất lượng sản phẩm) lương tương đương phó phòng lại là thương binh hạng nặng .

          Cái khoản “lương mất sức” ấy qua bao năm trượt giá bây giờ là 620 ngàn đồng một tháng không đủ cho cả nhà đi chợ trong một tuần. Cả xóm Khu tập thể  Trương Định lúc ấy coi Hoàng Cát như người què không nghề ngỗng lại  “chống chế độ” nên mọi người lánh xa dè bỉu. Hàng xóm mất con gà họ cũng vu cho ”thằng phản động” xông đến đánh anh phải vô nhà thương. Nhà văn Vũ Bão ( tác giả “Sắp cưới” nổi tiếng một thời) thương bạn văn quá ngày ngày mang cơm vào viện nuôi bạn.  Đến khi tìm được con gà họ cũng không một lời xin lỗi.   Những ngày tăm tối ấy Hoàng Cát vẫn là “em kết nghĩa” của nhà thơ lớn Xuân Diệu nhưng nhà thơ lớn cũng “thấp cổ bé họng” không giúp gì được cho đứa em tội nghiệp của mình.   Nhờ người  quen dẫn đường anh Hoàng Cát có  lần yết kiến nhà thơ  Tố Hữu. Anh Hoàng Cát bảo :” Khi mình  dặp anh Lành hai anh em nói chuyện rất cởi mở. Anh Lành  bắt tay rồi cười bảo :” Không việc gì tôi hiểu lắm ”. Nhưng “cấp dưới” vẫn không  hiểu không thương nên mới sinh chuyện..

            Nhờ đất nước đổi mới mãi đến năm 1988 cái tên Hoàng Cát  mới được xuất hiện trở lại trên báo chí. Anh hồi sinh  với thơ văn từ đó. Anh viết như chưa từng được viết. Anh chiến đấu với số phận bằng ngòi bút của mình như một người lính .  Anh chạy thi với thời gian . Trời còn cho thức đập trái tim / Ta còn viết những điiêù da diết nhất...(Tự nói với mình) .Từ đó đến nay anh đã cho in rất nhiều bút ký chuyện ngắn và thơ. Anh đã xuất bản 6 tập thơ : Tháng giêng dai dẳng Ngôi sao biếc Mùa thu tình yêu cuộc đời Thì hãy sống… Mới nhất là tập “Cảm ơn vỉa hè” ( 2006 ). Thơ Hoàng Cát là thơ tuôn chảy từ trái tim đã chín yêu thương cay đắng. Văn chương Hoàng Cát cháy bỏng một tình yêu Tổ Quốc nhân dân đồng đội. Đọc thơ văn anh không ai biết  đây là văn chương của  một thương binh bị cuộc đời hắt hủi. Sau  trận đột quỵ năm 2005 anh càng nhận chân cuộc đời rõ hơn . Và càng thương phận  kiến của con người hơn : Ta lang thang giữa trái đất khô cằn / Tiếp cơn đói lại dày vò cơn khát / Thân con kiến giữa mệnh mông sa mạc /…Còn sống đến hôm nay -  là “lãi” vô cùng!/ Ta không chết - đấy mới là chuyện lạ…(Thân con kiến).

          4. Nhà thơ Vương Ân đời Đường bên Trung Quốc có câu  Cổ lai chính chiến kỷ nhân hồi” ( người chinh chiến  lâu nay mấy  ai còn quay lại). Thế mà Hoàng Cát đã quay lại . Không phải quay lại một lần mà quay lại nhiều lần chiến trường xưa. Anh kể những ngày sau Tết Kỷ Dậu anh được biệt  phái làm đội trưởng dẫn một tổ quân khí của Đoàn 4 Thừa Thiên Huế vào cánh bắc Quảng Nam để học cách chế tạo  mìn bay của quân và dân Quân khu 5. Mìn bay là loại mìn đánh đồn bót và xe tăng địch rất hiệu quả lại đỡ tổn thất cho quân ta. Đến đầu năm 1999 thi học xong sản xuất thử tốt rồi định trở về đơn vị ở Phú Lộc thì bất ngờ địch rải bom B52 trúng công xưởng. Đó là trưa ngày  mùng 2 Tết Kỷ Dậu tức ngày 20-2-1969.  Khói  lửa ngút trời. Anh thấy mình bị hất tung lên rồi rơi xuống một sườn đồi. Chân trái anh bị nát ra như một cái bắp cải bị đập dập. Đau tê dại!

           Khi vết thương tuy chưa lành hẳn nhưng đã ổn định Hoàng Cát được anh em đồng đội cáng dần ra Bắc. Nhưng vừa cáng rời khỏi bệnh xá một ngày  thì gặp một trận càn rất lớn  của hỗn hợp liên quân Mỹ- Nguỵ- Nam Triều Tiên. Một chiến sĩ tên là Linh cán bộ quản lý đại đội vận tải đồng hương Nghệ An với Hoàng Cát cùng một chiến sĩ vận tải người dân tộc Tà Ôi cáng thương binh Hoàng Cát lọt đúng vào điểm đổ quân của máy bay cánh qụạt Mỹ ! Chúng bắn như vãi trấu hàng ngàn quả cối 60 ly và bắn hàng trăm băng đạn đại liên. Linh đi trước cáng gục chết ngày tại chỗ. Người lính dân tộc Tà ôi bỏ chạy xuống suối . Cái võng cáng Hoàng Cát bị cánh quạt máy bay thổi tốc lên trời. Hoàng Cát nằm chờ một loạt đạn để chết !... Nhưng rồi máy bay địch đổ quân. Chúng sợ nên nằm sát rạt bên kia thân máy bay không dám ngóc đầu dậy một lúc khá lâu. Đằng nào cũng hết! Hoàng Cát liều bò và lăn xuống sườn dốc. Bây giờ đang mưa dầm anh rơi vào  những bụi cỏ cây rậm…

           Bọn Mỹ chặt xác Linh chặt  ra thành nhiều  mảnh ( ở chiến trường bọn Mỹ hay có cái trò hết sực phi nhân tính này!) .  Hoàng Cát rơi xuống bụi cây như một cục đá. Đêm đến Hoàng Cát nghe tiếng ám hiệu “tróc chó” “đó óc tờ róc” của anh bộ đội  người Tà Ôi bò tới. Lay gọi thấy anh còn sống liền thập thững cõng anh từng bước trong đêm ra trạm chuyển thương . Cái chân trái của anh bị mất từ trận ấy.  Nên sự sống với anh là niềm  tri ân đồng đội.  Hoàng Cát không bao giờ quên : Trái tim tôi là một nấm mồ / Tôi chôn cất ấp iu người em tình nghĩa/…Tôi giữ mãi những nấm mồ / Luôn được ấm / Giữa ngực tôi ( Trái tim tôi là một nấm mồ)

              Ra chữa bệnh và an dưỡng ở miền Bắc thương binh Hoàng Cát được lắp cái chân giả. Anh vui với cái chân giả của mình : Trời ơi chân giả tháo ra / Cò cò lết lết như là trẻ con / Trót duyên thơ phú văn chương /  đêm ngày bò xổm trên gường với văn…Cái  chân giả trở thành một vấn đề nan giải của đời anh. Mỗi bước đi “nó” lại gợi lên muôn nỗi niềm nhức nhối cả về thể xác lẫn tinh thần : Tôi kiếm sống như muôn người lam lũ / Gắng nguôi quên cái chân giả nặng nề / Mỗi bước đi là một niềm nhức nhối / Giữ cho trái tim đừng nguội lạnh đam mê ( Vẫn là người lính).   Một lần vô thăm Huế cách đây sáu năm khi nghe một tên vô lại nói những câu  xúc phạm đến đồng đội của mình anh  giận tím mặt không nén được anh đã vung cái chân giả vào người hắn. Thế là cái chân vèo bay gãy mất. Anh ngất đi.  Nhờ bạn bè ở Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế giúp anh được Bệnh viện Trung ương Huế  biếu  một cái chân giả ngoại mới rất xịn. Nhưng anh vẫn lo.rồi cái  chân giả ấy gãy nữa thì sao ?    Vì thế anh phải lo chân giả “để dành” : Có ai biết ta đã để dành / Không phải đô-la không phải vàng / Mà chỉ một bên chân giả?...Ta chắt chiu để dành cái chân giả “xơ-cua” / Phòng bất trắc cái chân đang đi bị gẫy - Khỏi phải thêm một lần cuộc đời làm cho trọng thương (Để dành). Hình ảnh này ở Việt Nam trong  đội quân cách mạng duy nhất chỉ có thương binh vỉa hè Hoàng Cát mới trải qua. Nó vừa cao thượng lớn lao vừa ngậm ngùi đau xót. Thế nhưng anh lại điềm nhiên nghĩ : Không chân thật thì đi bằng chân giả / Miễn trong tim là thật máu của mình  (Thân Con kiến)

          Hôm vào thăm lại chiến trường xưa về Phong Điền thấy sông Bồ xanh trong quá anh liền cởi phăng quần áo mang chân giả lao người xuống sông tắm. Ấy là lần đầu tiên anh khoe cái chân giả với sông Bồ với bao bà con bạn bè thân thiết. Với cái chân giả nhọc nhằn ấy anh đã từng bước lần tìm về quá khứ về bên những người đồng đội xưa để tưởng niệm sẻ chia an ủi.  Nhìn anh cởi trần từ dưới sông lên nhảy cò cò hồn nhiên sung sướng cái chân trái cụt đến gối cứ lúc la lúc lắc. Rồi anh ngẫng đầu nhìn trời và đọc thơ sang sảng : Sướng hay khổ vui hay buồn - số phận / Trái tim ơi ! Cứ thao thức hết mình / Ta chỉ được một lần trên Cõi sống / Tội tình chi không hát với trời xanhNếu quả thực có luân hồi đổi kiếp / Xin hãy cho ta trở lại kiếp thi nhân …Tôi bỗng trào nước mắt. Trời Đất ơi anh đang sống đang yêu như đời mình chẳng hề oan khiên   cơ cực .

           Và bây giờ trái tim đang ấp ủ bao nấm mồ đồng bào đồng chí ấy đang đập trong lồng ngực miên man sông nước Sông Bồ…

                                                           Huế 7-2007

                                                   

tpl

Cháu Phước Lai

Cháu cám ơn chú đã ghé blog của cháu thăm và để lại lời động viên. Cháu vẫn theo dõi bài viết của Chú thường xuyên. Và nhờ đọc các bài viết của Chú về các nhà thơ mà cháu học được nhiều điều lắm ạ. Từ bài viết này của Chú cháu có nhiều trăn trở để viết bài thơ tặng Chú Hoàng Cát. Cháu kính chúc Chú sức khỏe.

Ngô Minh

Anh Hoàng CÁt

Chúc anh hôm nay co ngày vui với bạn bè blog Sai Gon. Rât tiếc là Ngô Minh không có mặt để nâng ly.
KInh anh.

hoàngcat

ngàn lần cảm tạ...

NM và tất cả các bạn yêu quý của HC!...
Mỗi lần mở ra và đọc lại bài báo này của NM là HC lại phải ngồi ôm mặt khóc lặng một mình - dù chỗ ngồi đọc là đâu!
lần này vô SG chơi với các bạn văn chương trên blog HC có dịp đọc lại càng cảm kích vô hạn trước những tình người mà NM và các bạn đã và đang dành cho HC...HC CẢM TẠ VÔ CÙNG!...

Ngô Minh

Nguyễn Ngọc Hạnh

Ngô Minh vào "nhà " NNH luôn. Xem cả anh Ngô Minh uống rượu trong đó cũng rất nhiều văn nghệ sĩ. Ngô Minh đã tải cái anh NM về lưu rồi. Cảm ơn Hạnh tâm huyết với bạn bè. NM sẽ có chuyến vô Đà Nẵng. Nhiều bạn bè mời lắm chỉ một con đèo mà cứ dan díu chuyện nhà khó thoát ra. Rồi sẽ "hành phương Nam"...

nguyễn ngọc hạnh

Gửi anh Ngô Minh

Mấy lần gửi thư cho anh rồi thế mà vẫn không hồi âm thật buồn! Từ nay chỉ vào nhà anh chơi thôi chứ không để lại dấu vết gì tốn công lắm! Vừa rồi có đọc bài của anh viết về Hoàng Cát trên TTCN thật cảm động. Chúc mừng anh. Anh vừa Bắc tiến say mềm với bạn thơ ngoài ấy vui quá nhỉ! Bao giờ nhà thơ Ngô Minh Nam tiến đây? Vào Đà Nẵng anh gọi Nguyễn Ngọc Hạnh nhé.

Ngô Minh

Phương Phương

Anh ra Đồng Hới say tit mù không bày vẽ gì cho HVT HK cả. Mà hình như "bọn hắn" cũng không đam me blog lắm.
Phương Phương. Xuân Dung ra Huế thì NM ở Đồng Hới. NM vô Huế thì XD ra Quảng Trị. THế là TRời không cho gặp rồi. Anh vừa mở blog thấy cái anh của em xinh quá!

Phương Phương

Ngô Minh !

Anh ra Đồng Hới có huấn luyện gì cho Hoàng Vũ Thuật và Hải Kỳ thêm không ?
Anh Thuật có nhà rồi mà không biết vào nhà Ngô Minh ạ ! Chẳng lẽ cứ để nhà cửa mốc ra à ?
Anh can tội "say quá" quên hết nhiệm vụ rồi .
Thà đừng lộ chuyện đi "Đồng Hới " thì em còn đỡ "ghét "!

Ngô Minh

Các bạn thân mến

Ngô Minh vừa đi Đồng Hơi về. Ngoài đó say liên miên không tỉnh phút nào để mở blog giờ về nhà mở glog thấy bạn bè chia sẻ bài viết của Ngô Minh về Hoàng Cát NM rất cảm đông.Tùgn Bách Phươn gPhưong VKN. MIng Nguỵet... ơi bài này in ở báo Tuoi Trẻ cuói tuần tuần này. Mai báo ra. Nhưng tòa soạn bắt Ngô Minh cắt đi 2/3 bài viết vì dài quá. Có in thơ và anh Hoàng CÁt nữa.
Đầu tuần sau Talawas ( báo mạng hải ngaọi) se in nguyên xi

Minh Nguyệt

Anh Cát ơi

Em đã lặng đi khi đọc những dòng viết của Ngô Minh về anh! Và so sánh với anh Cát ngoài đời mà em chỉ gặp hôm qua thôi...
Nụ cười sảng khoái có phần vô tư như trai trẻ với câu nói bất hủ : Tôi luôn yêu...vì nếu dừng yêu tôi ko sống được!
Một HC tự tin phong độ và rất ấm áp.
Em kính phục anh mong anh mãi giữ được phong độ tình yêu và niềm tin trong cuộc sống!
Cảm ơn bài viết cùa NM em hiểu thêm được một người bình thường mà vĩ đại ngay ở xung quanh ta.

Phương Phương

Ngô Minh và Hoàng Cát !

Cuộc đời ơi “món nợ Hoàng Cát” phải thanh thoả ngay khi chưa quá muộn. Trong trái tim nhà thơ ấy không chỉ có mộ chí của bao đồng đội anh đã hy sinh mà còn có nấm mồ của niềm oan khuất khôn nguôi !
______
Ngô Minh ơi ! Mặc dù rất bận em đã dành thời gian đọc bài viết này của anh .Đọc xong những giọt nước mắt cứ lặng lẽ tuôn trào ...Nhờ bài viết của anh em đã hiểu thêm về nhà thơ Hoàng Cát đáng khâm phục của chúng mình .Cuộc đời nghiệt ngã với Hoàng Cát nhưng trái tim anh ấy ấm nồng một tình yêu thương đằm thắm độ lượng biết bao ...
Cảm ơn nhà báo -nhà thơ Ngô Minh .Hy vọng bài báo sẽ thức tỉnh các cơ quan chức năng -những con người có lương tâm nên biết mình phải làm gì ?Thời gian không còn chờ đợi lâu thêmn nữa phải không các anh ?
@ Ngô Minh ơi ! Còn một số lỗi chính tả (ít thôi) anh lưu ý nhé !
Hôm HC vào Huế Nguyên Hùng cứ lo ở Huế Hoàng Cát "cô đơn" .Em nói để NH yên tâm
" Anh ơi ! Có Ngô Minh rồi !" -Quả là Ngô Minh đã không phụ lòng tin cậy của em !
Cảm ơn anh! Ngô Minh!